Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/DS-ST

Ngày: 15-7-2024

V/v tranh chấp về hợp đồng

dân sự vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Thìn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Văn Thiện.
  2. Bà Nguyễn Thanh Thảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Bích Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm: 1963.

    Địa chỉ: Số G, tổ C, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đ.

  2. Bị đơn:

    1. Anh Nguyễn Duy T, sinh năm: 1980.

    2. Chị Đinh Thị Hồng T1, sinh năm: 1991.

    Cùng địa chỉ: Số A T, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ.

Ông H có mặt tại phiên tòa; anh T, chị T1 vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Văn H trình bày:

Trước đây, ông H có cho vợ chồng anh T, chị T1 vay tiền để kinh doanh mua bán và trả nợ ngân hàng như sau:

  • - Ngày 08/8/2014 ông H có cho anh T, chị T1 vay số tiền 180.000.000 đồng, thời hạn vay trong biên nhận là 05 ngày, thời hạn vay thỏa thuận miệng là từ 05 đến 10 ngày kể từ ngày vay, lãi vay thỏa thuận miệng là 1,66%/tháng; Ông H đã giao số tiền vay 180.000.000 đồng cho anh T, chị T1 nhận ngày 08/8/2014, khi giao nhận tiền có làm Biên nhận cam kết và thanh toán, anh T, chị T1 có ký tên và ghi họ tên. Đến ngày 14/8/2014 anh T, chị T1 có trả cho ông H 80.000.000 đồng tiền vốn vay, còn nợ lại số tiền vốn vay 100.000.000 đồng.
  • - Ngày 13/11/2014 ông H có cho anh T, chị T1 vay số tiền 40.000.000 đồng, thời hạn vay trong biên nhận là 30 ngày kể từ ngày vay, lãi vay thỏa thuận miệng là 1,66%/tháng; Ông H đã giao số tiền vay 40.000.000 đồng cho anh T, chị T1 nhận ngày 13/11/2014, khi giao nhận tiền có làm Biên nhận nợ, anh T, chị T1 có ký tên và ghi họ tên.
  • - Ngày 15/11/2014 ông H có cho anh T, chị T1 vay số tiền 30.000.000 đồng, thời hạn vay thỏa thuận miệng là từ 05 đến 10 ngày, kể từ ngày vay, lãi vay thỏa thuận miệng là 1,66%/tháng; Ông H đã giao số tiền vay 30.000.000 đồng cho anh T, chị T1 nhận ngày 15/11/2014, khi giao nhận tiền có làm Biên nhận nợ, anh T, chị T1 có ký tên và ghi họ tên.
  • - Ngày 24/11/2014 ông H có cho anh T, chị T1 vay số tiền 70.000.000 đồng, thời hạn vay thỏa thuận miệng là từ 05 đến 10 ngày, kể từ ngày vay, lãi vay thỏa thuận miệng là 1,66%/tháng; Ông H đã giao số tiền vay 70.000.000 đồng cho anh T, chị T1 nhận ngày 24/11/2014, khi giao nhận tiền có làm Biên nhận nợ, anh T, chị T1 có ký tên và ghi họ tên.
  • - Ngày 27/12/2014 ông H có cho anh T, chị T1 vay số tiền 32.000.000 đồng, thời hạn vay thỏa thuận miệng là từ 05 đến 10 ngày, kể từ ngày vay, lãi vay thỏa thuận miệng là 1,66%/tháng; Ông H đã giao số tiền vay 32.000.000 đồng cho anh T, chị T1 nhận ngày 27/12/2014, khi giao nhận tiền có làm Biên nhận nợ, anh T, chị T1 có ký tên và ghi họ tên.
  • - Ngày 09/01/2015 ông H có cho anh T, chị T1 vay số tiền 25.000.000 đồng, thời hạn vay thỏa thuận miệng là từ 05 đến 10 ngày, kể từ ngày vay, lãi vay thỏa thuận miệng là 1,66%/tháng; Ông H đã giao số tiền vay 25.000.000 đồng cho anh T, chị T1 nhận ngày 09/01/2015, khi giao nhận tiền có làm Biên nhận nợ, anh T, chị T1 có ký tên và ghi họ tên.

Sau các lần vay tiền như trên thì anh T, chị T1 có trả tiền lãi vay của các khoản vay cho ông H với lãi suất 1,66%/tháng từ khi vay đến tháng 5/2015, từ tháng 6/2015 đến nay không tiếp tục trả lãi vay. Tiền vốn vay còn nợ tổng cộng là 297.000.000 đồng.

Nay ông Lê Văn H yêu cầu anh Nguyễn Duy T, chị Đinh Thị Hồng T1 cùng liên đới trả cho ông H số tiền vốn vay còn nợ là 297.000.000 đồng và tiền lãi vay từ ngày 01/6/2015 đến ngày 15/7/2024 là 109 tháng (tính tròn 109 tháng) x 297.000.000 đồng x 1,66%/tháng = 537.391.800 đồng, tổng cộng tiền vốn vay và tiền lãi vay là 831.391.800 đồng.

Ngoài ra, ông H không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn anh Nguyễn Duy T vắng mặt không có lý do, trước đây có lời khai trình bày:

Các chữ viết trong Biên nhận cam kết và thanh toán đề ngày 8/8/2014 số tiền 180.000.000 đồng là do anh Trầm Vĩnh Q viết; anh T, chị T1 có ký tên và ghi họ tên phía dưới chỗ Người mượn.

Các Biên nhận nợ đề ngày 15/11/2014 số tiền 30.000.000 đồng, ngày 24/11/2014 số tiền 70.000.000 đồng, ngày 27/12/2014 số tiền 32.000.000 đồng, ngày 9/1/2015 số tiền 25.000.000 đồng do anh T viết; Anh T2 và chị T1 có ký tên và ghi họ tên phía dưới chỗ Người nhận tiền.

Các biên nhận như trên khi làm biên nhận thì chỉ có anh T2 ký tên, sau này ông H đem tất cả các biên nhận yêu cầu chị Đinh Hồng T1 ký tên sau.

Còn Biên nhận nợ đề ngày 13/11/2014 số tiền 40.000.000 đồng, anh T2 không có viết, không có ký tên, không có ghi họ tên. Chị T1 có ký tên và ghi họ tên trong biên nhận nợ này.

Anh T2 chỉ đồng ý liên đới với chị T1 trả cho ông H số tiền vốn vay còn nợ là 100.000.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi vay.

Ngoài ra, anh T2 không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn chị Đinh Thị Hồng T1 dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng không có văn bản nêu ý kiến và không đến Tòa án để làm việc.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:

Về tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn anh Nguyễn Duy T, chị Đinh Thị Hồng T1 không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án, quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn H, buộc anh Nguyễn Duy T và chị Đinh Thị Hồng T1 cùng liên đới trả cho ông H số tiền vốn vay còn nợ là 297.000.000 đồng và tiền lãi vay từ ngày 01/6/2015 đến ngày xét xử với lãi suất 0,83%/tháng.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn tranh chấp với phía bị đơn về hợp đồng vay tài sản (tiền), xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản”. Căn cứ theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Các bị đơn anh Nguyễn Duy T, chị Đinh Thị Hồng T1 vắng mặt tại phiên tòa được mở lần thứ hai không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T, chị T1 theo quy định.

[2] Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về các biên nhận nợ nguyên đơn cung cấp.

Tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về nghĩa vụ chứng minh như sau:

“2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.”

Và tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh như sau:

“2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.”

Bị đơn anh T thừa nhận anh T, chị T1 có ký tên và ghi họ tên phía dưới chỗ Người mượn trong Biên nhận cam kết và thanh toán đề ngày 8/8/2014 số tiền 180.000.000 đồng và anh T, chị T1 có ký tên, ghi họ tên phía dưới chỗ Người nhận tiền trong các Biên nhận nợ đề ngày 15/11/2014 số tiền 30.000.000 đồng, ngày 24/11/2014 số tiền 70.000.000 đồng, ngày 27/12/2014 số tiền 32.000.000 đồng, ngày 9/1/2015 số tiền 25.000.000 đồng. Còn Biên nhận nợ đề ngày 13/11/2014 số tiền 40.000.000 đồng, anh T cho rằng không có ký tên, không có ghi họ tên; Chị T1 có ký tên và ghi họ tên trong biên nhận nợ này.

Ông H cho rằng chữ ký tên và ghi họ tên Nguyễn Duy T phía dưới chỗ Người nhận tiền trong Biên nhận nợ đề ngày 13/11/2014 mà ông H cung cấp cho Tòa án là chữ ký tên và ghi họ tên của anh T. Anh T2 không thừa nhận chữ ký tên và ghi họ tên trong biên nhận này là cuả anh T2. Tuy nhiên, anh T2 không cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh. Mặc dù Tòa án cũng đã có thông báo gửi cho anh T2 thực hiện thủ tục trưng cầu giám định chữ ký tên, chữ viết họ tên Nguyễn Duy T trong biên nhận này, nhưng anh T không thực hiện.

Đối với bị đơn chị Đinh Thị Hồng T1 dù đã nhận được các thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng, đã biết được việc ông H khởi yêu cầu chị T1 cùng liên đới với anh T trả cho ông H tiền vốn vay, tiền lãi vay nhưng không có văn bản nêu ý kiến, không đến Tòa án để làm việc; không cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh.

Chị T1 không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của ông H. Anh T2 thừa nhận việc ký tên, ghi họ tên trong các biên nhận nợ ông H cung cấp, không thừa nhận ký tên, ghi họ tên trong Biên nhận nợ đề ngày 13/11/2014, nhưng anh T2 không cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh. Do đó, có căn cứ chấp nhận lời trình bày và các tài liệu, chứng cứ ông H giao nộp, chứng minh việc anh T2, chị T1 có vay tiền của ông H theo Biên nhận cam kết và thanh toán đề ngày 8/8/2014 số tiền 180.000.000 đồng, các Biên nhận nợ đề ngày 15/11/2014 số tiền 30.000.000 đồng, ngày 24/11/2014 số tiền 70.000.000 đồng, ngày 27/12/2014 số tiền 32.000.000 đồng, ngày 9/1/2015 số tiền 25.000.000 đồng, ngày 13/11/2014 số tiền 40.000.000 đồng.

[2.2] Xét việc ông H yêu cầu anh T2, chị T1 liên đới trả tiền vốn vay. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Qua phân tích ở phần [2.1] theo các biên nhận nợ thì tổng số tiền vốn ông H cho anh T2, chị T1 vay là 297.000.000 đồng. Ông H yêu cầu anh T2, chị T1 liên đới trả tiền vốn vay 297.000.000 đồng. Anh T2 chỉ đồng ý cùng liên đới với chị T1 trả cho ông H số tiền vốn vay 100.000.000 đồng, còn chị T1 thì không có ý kiến.

Anh T2, chị T1 không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho việc trả tiền vốn vay cho ông H. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông H, buộc anh T2 và chị T1 liên đới trả cho ông H số tiền vốn vay 297.000.000 đồng.

[2.3] Xét yêu cầu trả tiền lãi vay của ông H với lãi suất 1,66%/tháng từ ngày 01/6/2015 đến ngày 15/7/2024, ông H tính tròn là 109 tháng. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự quy định về lãi suất như sau:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác...

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”

Các biên nhận nợ không ghi lãi suất vay, theo ông H trình bày thì lãi suất vay thỏa thuận miệng khi vay là 1,66%/tháng. Phía bị đơn anh T2 chỉ đồng ý trả tiền vốn vay cho ông H là 100.000.000 đồng. Do đó, đây là trường hợp không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất nên chỉ được tính lãi suất là 10%/năm, tương đương 0,83%/tháng.

Như vậy chỉ có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu của ông H, buộc anh T2 và chị T1 liên đới trả tiền lãi vay với lãi suất là 0,83%/tháng. Do ông H yêu cầu tính lãi vay từ ngày 01/6/2015 đến ngày 15/7/2024, nhưng ông H yêu cầu tính tròn là 109 tháng là có lợi cho phía bị đơn nên chấp nhận. Vì vậy tiền lãi vay từ ngày 01/6/2015 đến ngày 15/7/2024 là: 109 tháng x 297.000.000 đồng x 0,83%/tháng = 268.695.900 đồng.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy theo Biên nhận cam kết và thanh toán ngày 08/8/2014 có ghi thời hạn vay là 05 ngày, Biên nhận nợ ngày 13/11/2014 ghi thời hạn vay là 30 ngày, đối với các biên nhận nợ còn lại không ghi thời hạn vay; Theo ông H trình bày thời hạn của tất cả các lần vay theo thỏa thuận miệng là từ 05 đến 10 ngày kể từ ngày vay tiền. Theo đó, phía bị đơn đã vi phạm thời hạn trả nợ, nhưng nguyên đơn không khởi kiện trong thời hiệu khởi kiện, theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 là 03 năm từ ngày phía bị đơn vi phạm thỏa thuận. Tuy nhiên, phía bị đơn đã không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về thời hiệu khởi kiện của nguyên đơn là còn thời hiệu hay không. Do đó, Tòa án không xem xét thời hiệu khởi kiện trong vụ án.

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc về việc giải quyết vụ án.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận một phần yêu cầu tính lãi vay của ông H, nên ông H phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận; Miễn toàn bộ án phí cho ông H do là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn nộp. Anh T2 và chị T1 phải liên đới chịu án phí đối với yêu cầu của ông H được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 184, 227, 228, 264, 271, 273, 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 357, 429, 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 12, 14, 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H. Buộc anh Nguyễn Duy T, chị Đinh Thị Hồng T1 cùng liên đới trả cho ông H số vốn vay còn nợ là 297.000.000 đồng và tiền lãi vay từ ngày 01/6/2015 đến ngày 15/7/2024 là 268.695.900 đồng. Tổng cộng tiền vốn vay và tiền lãi vay là 565.695.900đ (Năm trăm sáu mươi lăm triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn chín trăm đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu trả tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    • - Ông Lê Văn H được miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm, do là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn nộp.
    • - Anh Nguyễn Duy T, chị Đinh Thị Hồng T1 phải liên đới chịu 26.627.836 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKSND TP. Sa Đéc;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP. Sa Đéc;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Minh Thìn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 58/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bên a yêu cầu bên b trả số tiền vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger