Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/DS-PT

Ngày 21 - 6 - 2024

V/v: “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; yêu cầu vô hiệu HĐ thế chấp; đòi lại tài sản; tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm văn Phấn

Các Thẩm phán:Bà Thái Thị Hồng Vân

Ông Nguyễn Quang Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; yêu cầu vô hiệu hợp đồng thế chấp; đòi lại tài sản; tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 7 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 112/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1961. Địa chỉ: khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Lô Thị H, sinh năm 1957. Địa chỉ: khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An (đã chết ngày 12/3/2020)

Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Lô Thị H:

  1. Bà Lô Thị C, sinh năm 1940 (mẹ của bà H). Địa chỉ: khối H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt;
  2. Anh La Văn H1, sinh năm 1983 (con bà H). Địa chỉ: bản H, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt;
  3. Anh La Văn H2, sinh năm 1994 (con bà H). Địa chỉ: bản N, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An. Đề nghị vắng mặt;
  4. Anh La Văn H3, sinh năm 1990 (con bà H). Địa chỉ: Đại đội BTR A, phòng Tham mưu - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N. Vắng mặt;

(Bà Lô Thị C, anh La Văn H1, anh La Văn H3 ủy quyền cho anh La Văn H2 tham gia tố tụng). Anh H2 đề nghị vắng mặt;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn S, chức vụ Chi cục trưởng. Đề nghị vắng mặt.
  2. Ngân hàng TMCP C1 - Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Văn Vũ T, chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh thành phố V. Vắng mặt.
  3. Ông Đặng Xuân P, sinh năm 1957. Vắng mặt;
  4. Anh Đặng Xuân V, sinh năm 1988. Vắng mặt;
  5. Anh Đặng Xuân M, sinh năm 1990. Vắng mặt;

Cùng địa chỉ: khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An

(Ông P, anh V, anh M uỷ quyền cho bà Lê Thị N tham giam tố tụng). Bà N có mặt;

  1. Anh Đặng Xuân N1, sinh năm 1986. Địa chỉ: khối H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt;
  2. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1977 và bà Võ Thị Lan A, sinh năm 1979 (vợ ông T1). Cùng địa chỉ: khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An. Ông T1, bà A vắng mặt;
  3. Ông Lương Xuân Q, sinh năm 1962. Địa chỉ: khối A, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bà Lê Thị N, nguyên đơn;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày:

Bà Lê Thị N trước đây có quan hệ bạn bè với bà Lô Thị H. Do bạn bè quen biết nhau nên khi bà H khó khăn tiền nong để đảo khế ngân hàng nên có hỏi vay tiền của bà. Vào ngày 06/10/2015, bà N đã cho bà H vay số tiền 1.333.650.000 đồng (Một tỷ, ba trăm ba mươi ba triệu, sáu trăm năm mươi nghìn) vay tiền mặt, không yêu cầu lãi suất. Khi vay bà H có viết “Giấy vay nợ đảo khế” đề ngày 06/10/2015 (Trong đó có một số tiền bà H nợ bà N trước đó nên bà N cộng vào khoản vay này). Khi vay không thỏa thuận về lãi suất trả mà chỉ thỏa thuận thời hạn trả là sau khi vay đảo khế thì sẽ trả lại toàn bộ số tiền trên. Bà H hẹn là sau khi đảo khế sẽ trả tiền đầy đủ cho bà. Tuy nhiên sau khi bà H đảo khế ngân hàng xong thì bà H không trả, nên bà trực tiếp đi đòi nhiều lần nhưng bà H vẫn không chịu trả. Do bà H chưa có tiền trả cho bà nên vào ngày 02/12/2015 bà H có viết “Giấy thế chấp ốt gắn liền với đất” với nội dung là nếu không trả được nợ cho bà N thì bà N có quyền sử dụng ốt gắn liền với đất (chiều rộng 5m, dài 25m, phía tây giáp cây xăng) tại khối D, thị trấn M, huyện K, Nghệ An.

Sau đó bà có đến đòi nhiều lần nhưng bà H vẫn không có trả, đến ngày 04/01/2016 bà H lại tiếp tục viết “Giấy vay tiền”, nội dung là xác nhận khoản vay bà với số tiền 1.333.650.000 đồng, cam kết sẽ trả trước cho bà 01 tỷ đồng, số tiền còn lại sẽ trả dần.

Sau đó một thời gian, do không có tiền trả nên bà H tiếp tục làm tin với bà bằng cách viết “Giấy thế chấp nhà ở nằm trên đất” đề ngày 04/02/2016. Nội dung giấy này thể hiện: Thế chấp nhà 02 tầng gắn liền với quyền sử dụng đất của bà Lô Thị H tại khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An (đất nhà này nằm sát bên kiốt mà bà H thế chấp theo giấy thế chấp ngày 02/12/2015) cho bà N sử dụng cho đến khi nào bà H trả hết nợ cho bà N thì trả lại đất và nhà.

Về “Giấy vay nợ đảo khế” đề ngày 06/10/2015 và “Giấy vay tiền” ngày 04/01/2016 do bà H trực tiếp viết và ký tên, không có ai làm chứng.

Về “Giấy thế chấp ốt gắn liền với đất” đề ngày 02/12/2015 do bà H có viết và ký tên, không có ai làm chứng. Về “Giấy thế chấp nhà ở nằm trên đất” đề ngày 04/02/2016 do bà H có viết và ký tên, giấy này có em gái bà N là bà Lê Thị Ngọc T2 làm chứng. Hai giấy này không có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Do đó bà Lê Thị N khởi kiện để yêu cầu bị đơn bà Lô Thị H (Đã chết), nay là người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà Lô Thị H gồm: Anh La Văn H2, bà Lô Thị C, anh La Văn H1, anh La Văn H3 thanh toán toàn bộ số tiền nợ mà bà Lô Thị H đã vay là 1.333.650.000 đồng (Một tỷ, ba trăm ba mươi ba triệu, sáu trăm năm mươi nghìn)

Đối với đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung theo đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 24/12/2018 bà N tiếp tục yêu cầu bà Lô Thị H trả cho bà số tiền nợ đã vay 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Ngày 28/8/2019 bà đã làm đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện bổ sung số tiền này, việc rút đơn là hoàn toàn tự nguyện. Bà N đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu phản tố của bà Lô Thị H về việc yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp xác lập ngày 02/12/2015 và hợp đồng thế chấp xác lập ngày 04/02/2016, đồng thời buộc bà Lê Thị N phải trả lại thửa đất số 146, tờ bản đồ 05 tại khối D, thị trấn M, huyện K thì bà N hoàn tòan không chấp nhận các yêu cầu trên của bà H. Việc thế chấp là bà H hoàn toàn tự nguyện, bà N không ép buộc. Để có tiền cho bà H vay thì bà cũng phải đi vay nóng của người khác rồi cho bà H vay lại, do không có tiền thanh toán cho những người bà đã vay nên bà bắt buộc phải bán nhà của mình để đến ở trên đất của bà H đã thế chấp. Quá trình bà N đến ở trên đất thì bà H hoàn toàn đồng ý, khi gia đình bà đến xây nhà thì bà H có biết và không phản đối. Ngôi nhà xây dựng trên thửa đất là chỗ ở duy nhất của gia đình bà, do đó bà N không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà H.

Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi liên quan ông Nguyễn Văn T1 về việc yêu cầu anh La Văn H2 (con đẻ bà Lô Thị H) là người kế thừa quyền tố tụng của bị đơn bà Lô Thị H phải tháo dỡ, di dời công trình đã xây dựng trên đất để trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm cho gia đình ông T1 là 19,7m². Căn cứ vào hiện trạng cấp GCNQSD đất của 02 thửa đất thì bà thừa nhận có sự xây dựng lấn chiếm sang thửa đất của gia đình ông T1 với diện tích 19,7m². Tuy nhiên khi bà N đến xây dựng nhà để ở thì bà H hoàn toàn đồng ý, không phản đối, bà H còn đến chỉ vị trí đất cho bà N. Thực tế cả mấy gia đình đều không biết việc xây dựng có sự lấn chiếm cho đến khi Tòa án đến thẩm định lại hiện trạng tài sản tranh chấp. Việc xây dựng lấn chiếm không phải là lỗi của bà nên bà không chấp nhận yêu cầu của ông T1.

Bà N chỉ chấp nhận việc trả lại thửa đất số 146, tờ bản đồ 05 tại khối D, thị trấn M, huyện K cho bà H và yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T1 nếu các đồng thừa kế của bà H trả đủ số tiền nợ đã vay cho bà với số tiền 1.333.650.000 đồng và thanh toán giá trị tài sản trên đất cho bà.

Đối với yêu cầu phản tố của bà Lô Thị H yêu cầu bà Lê Thị N phải bồi thường giá trị 02 ki ốt bà N đã phá dỡ số tiền 120.000.000 đồng và tiền thiệt hại do không cho thuê ki ốt tính từ tháng 4 năm 2016 cho đến tháng 02 năm 2020 (trung bình tiền cho thuê 3.500.000 đồng/tháng/1kiốt) là 322.000.000 đồng, tổng cộng là 442.000.000 đồng (bốn trăm bốn mươi hai triệu). Ngày 27/02/2023 anh H2 là người đại diện cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà H đã rút yêu cầu này, bà N không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người đại diện của những người kế thừa quyền nghĩa vụ của bị đơn bà Lô Thị H, anh La Văn H2 trình bày:

Anh La Văn H2 có biết mẹ anh là bà Lô Thị H có quan hệ vay tiền, buôn bán làm ăn với bà Lê Thị N nhưng đối với khoản vay 1.333.650.000 đồng (Một tỷ, ba trăm ba mươi ba triệu, sáu trăm năm mươi nghìn) thì anh không biết, do thời điểm đó anh không có mặt tại nhà. Tuy nhiên trước khi mẹ anh (bà H) chết thì bà H đã cung cấp các lời khai về nội dung liên quan đến việc vay mượn giữa bà H và bà N, do đó anh H2 hoàn toàn thống nhất nội dung, ý kiến bà H đã trình bày tại Tòa án trước đây, cụ thể bà H đã khai như sau:

*Lời khai bà H tại Tòa án trước khi chết: “……Về các giấy: “giấy vay tiền đảo khế” ngày 06/10/2015; “Giấy thế chấp ốt gắn liền với đất” ngày 02/12/2015; “giấy vay tiền” ngày 04/01/2016; “giấy thế chấp nhà ở nằm trên đất” ngày 04/02/2016 như bà N nói trên, các giấy này đều do bà H tự tay viết, nhưng do bà N ép buộc viết, các giấy này viết tại nhà bà H, không có ai làm chứng, bà N đi một mình đến nhà ép bà H viết các giấy này. Nội dung xác nhận bà H vay nợ bà N số tiền 1.333.650.000 đồng (một tỷ, ba trăm ba mươi ba triệu, sáu trăm năm mươi nghìn), không có thời hạn vay, không yêu cầu tính lãi suất, mục đích vay là đảo khế ngân hàng. Trường hợp không trả được khoản vay này thì bà H giao bà N được sử dụng ốt gắn liền với đất (chiều rộng 5m, dài 25m, phía tây giáp cây xăng) tại khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An; và thế chấp nhà 02 tầng gắn liền với quyền sử dụng đất của bà Lô Thị H tại khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An (đất nhà này nằm sát bên kiốt mà bà H thế chấp theo giấy thế chấp ngày 02/12/2015) cho bà N sử dụng cho đến khi nào bà H trả hết nợ cho bà N thì bà N trả lại đất và nhà.

Về khoản vay số tiền 1.333.650.000 đồng bà N kiện thì bà H khai cụ thể như sau: “Bà H có vay của bà Lê Thị N và bà Lê Thị Ngọc T2 cụ thể như sau: Ngày 30/9/2015, vay của Tần 800.000.000 đồng; ngày 09/10/2015, bà H vay của bà Lê Thị Ngọc Tần s tiền 100.000.000 đồng; ngày 08/10/2015, bà H có vay của bà Lê Thị N số tiền 400.000.000 đồng; ngày 12/10/2015 (buổi sáng), bà H vay của bà Lê Thị N số tiền 409.150.000 đồng; ngày 12/10/2015 (buổi chiều) bà H có vay bà Lê Thị N số tiền 13.500.000 đồng; Tổng cộng số tiền bà H vay của bà Lê Thị Ngọc T2 là 900.000.000 đồng; bà H vay của bà Lê Thị N số tiền 822.650.000 đồng; Tổng cộng bà H có vay của bà N và bà T2 là 1.722.650.000 đồng (một tỷ, bảy trăm hai mươi hai triệu, sáu trăm năm mươi nghìn), việc vay tiền này không ghi lãi suất trong văn bản chỉ thỏa thuận miệng với nhau lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, thời hạn vay chỉ thỏa thuận là khi nào đảo khế ngân hàng xong thì sẽ trả cả gốc và lãi cho bà N và bà T2. Đến ngày 31/10/2015, bà H có trả cho bà Lê Thị N và bà Lê Thị Ngọc Tần s tiền 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu), việc trả này có giấy tờ, bà N đã xác nhận nhận đủ tiền; ngày 26/12/2015 âm lịch, bà H trả cho bà Lê Thị Ngọc Tần s tiền 66.000.000 đồng tại nhà bà T2, không có giấy tờ; còn lại bà H còn nợ bà N và bà Tần số tiền là 1.722.650.000 đồng - 1.566.000.000 đồng = 156.650.000 đồng (một trăm năm mươi sáu triệu, năm trăm sáu mươi nghìn).

Về khoản vay số tiền 1.333.650.000 đồng (một tỷ, ba trăm ba mươi ba triệu, sáu trăm năm mươi nghìn), do bà Lê Thị N ép buộc bà viết chứ bà H không nợ số tiền đó, thực chất bà chỉ còn nợ bà Lê Thị N và bà Lê Thị Ngọc Tần s tiền 156.650.000 đồng (một trăm năm mươi sáu triệu, năm trăm sáu mươi nghìn).

Trong giấy viết tay do bà viết có ghi nội dung: Cho bà N được sử dụng ốt gắn liền với đất (chiều rộng 5m, dài 25m, phía tây giáp cây xăng) tại khối D, thị trấn M, huyện K và thế chấp nhà 02 tầng gắn liền với quyền sử dụng đất của bà Lô Thị H tại khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An (đất nhà này nằm sát bên kiốt mà bà H thế chấp theo giấy thế chấp ngày 01/12/2015) cho bà N sử dụng cho đến khi nào bà trả hết nợ cho bà N thì sẽ trả lại đất và nhà. Giấy này do bà H viết tại nhà riêng, do bà N ép buộc, khi viết không có ai làm chứng. Năm 2017, bà H không ở trên thửa đất đó nữa, lý do bà N đánh đập đuổi bà ra khỏi thửa đất này nên bà về bên ngoại tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An sinh sống.

Thửa đất mà bà H viết giấy thế chấp cho bà N theo “Giấy thế chấp nhà ở nằm trên đất” ngày 04/02/2016 là thửa đất số 111, tờ bản đồ 05, diện tích 327,1m² tại khối D thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An đã được UBND huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, quyền sở hữu tài sản trên đất ngày 22/8/2014 mang tên Lô Thị H. Bà H thế chấp giấy chứng nhận này để vay tiền tại Ngân hàng C1 – Chi nhánh V (V2). Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên V2 đã khởi kiện bà H. Ngày 18/4/2018, Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự số 01/2018/QÐST-KD. Sau đó V3 đã làm đơn yêu cầu thi hành án nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn. Quá trình thi hành án, bà H và V1 đã thống nhất thỏa thuận bà H bàn giao một phần thửa đất số 111, tờ bản đồ 05 có diện tích 214,4m²/327,1m² để V3 bán thu hồi nợ. Hiện tại phần diện tích đất trên đã được bán đấu giá để thu hồi nợ cho V3.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N yêu cầu bà Lô Thị H trả số tiền 1.333.650.000 đồng không yêu cầu tính lãi suất, vay ngày 06/10/2015 thì bà H không đồng ý. Bà H chỉ thừa nhận nợ của bà Lê Thị N và bà Lê Thị Ngọc Tần s tiền 156.650.000 đồng.

Theo anh La Văn H2, qua quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, anh H2 được tiếp cận với các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn bà Lê Thị N xuất trình, anh H2 chấp nhận các khoản nợ theo các giấy vay tiền mà bà Lô Thị H đã viết và đưa lại cho bà N. Với tư cách là người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà Lô Thị H thì anh H2 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N về việc buộc anh H2 và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lô Thị H phải thanh toán khoản nợ đã vay. Tuy nhiên khi bà Lô Thị H chết di sản bà H để lại chỉ có duy nhất thửa đất số 146, tờ bản đồ 05 tại khối D, thị trấn M có giá 1.099.000.000 đồng, do đó anh H2 và những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng chỉ chấp nhận thanh toán trong phạm vi được hưởng di sản thừa kế của bà H là số tiền 1.099.000.000 đồng. Anh H2 đề nghị những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà H gồm bà Lô Thị C, anh La Văn H3, anh La Văn H1 và anh (La Văn H2) đều phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà N, ông P với kỷ phần bằng nhau.

Đối với đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung theo đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 24/12/2018 bà N tiếp tục yêu cầu bà Lô Thị H trả cho bà số tiền nợ đã vay 200.000.000 đồng. Ngày 28/8/2019, bà N đã làm đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện bổ sung số tiền này, việc bà N rút yêu cầu này anh H2 không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án bà Lô Thị H phản tố bà Lê Thị N với nội dung: Sau khi bà N ép bà H làm các giấy tờ vay tiền để buộc bà thừa nhận số tiền nợ 1.333.650.000 đồng thì bà N liên tục ép bà H phải trả, bà H không trả được nên bà N đã ép bà viết các giấy thế chấp xác lập ngày 02/12/2015 để thế chấp phần diện tích đất rộng 05 mét, dài 25 mét cạnh cây xăng và giấy thế chấp xác lập ngày 04/02/2016 thế chấp thửa đất cùng với ngôi nhà trên đất. Sau khi bà H viết các giấy tờ thế chấp thì vào đầu năm 2016 bà N cùng gia đình đã tự đến phá ki ốt tại phần diện tích đất rộng 05 mét, dài 25 mét (nay tương ứng với thửa đất số 146, tờ bản đồ 05) để ở mà không có sự đồng ý của bà H. Việc bà H viết các giấy tờ thế chấp là do bà N ép buộc và không đúng theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định, do đó bà H yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp xác lập ngày 02/12/2015 và hợp đồng thế chấp xác lập ngày 04/02/2016, đồng thời buộc bà Lê Thị N phải trả lại thửa đất số 146, tờ bản đồ 05 tại khối D, thị trấn M, huyện K. Với tư cách là người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà H thì anh H2 vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố nói trên. Anh H2 chấp nhận việc thanh toán cho bà Lê Thị N giá trị tài sản trên đất mà gia đình bà N đã xây dựng theo kết quả định giá tài sản của Tòa án.

Đối với yêu cầu phản tố của bà Lô Thị H yêu cầu bà Lê Thị N phải bồi thường giá trị 02 ki ốt bà N đã phá dỡ số tiền 120.000.000 đồng và tiền thiệt hại do không cho thuê ki ốt tính từ tháng 4 năm 2016 cho đến tháng 02 năm 2020 (trung bình tiền cho thuê 3.500.000 đồng/tháng/1kiốt) là 322.000.000 đồng, tổng cộng là 442.000.000 đồng (bốn trăm bốn mươi hai triệu) thì vào ngày 27/02/2023 anh H2 đã rút yêu cầu này, việc rút yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện, anh H2 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1: Qua việc xem xét thẩm định tại sản đang tranh chấp của Tòa án đã thể hiện việc gia đình bà Lê Thị N sau khi đến ở tại thửa đất số 146, tờ bản đồ 05 tại khối D, thị trấn M đã xây lấn sang thửa đất số 112, tờ bản đồ 05 của gia đình ông Nguyễn Văn T1 (Thửa đất mà anh H2 đã chuyển nhượng cho ông T1 trước đó) với diện tích 19,7m². Thực tế việc xây dựng lấn chiếm nói trên thì mấy gia đình đều không biết cho đến khi Tòa án đến thẩm định, kiểm tra hiện trạng tranh chấp. Anh H2 thừa nhận có việc xây dựng lấn chiếm nói trên, do đó trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lô Thị H (mẹ anh) về việc buộc bà Lê Thị N trả lại thửa đất số 146, tờ bản đồ 05 thì anh và những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà H sẽ tháo dỡ, di dời các công trình trên đất để trả lại diện tích đất đã xây dựng lấn chiếm cho gia đình ông T1.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Nguyễn Văn T1 và bà Võ Thị Lan A thống nhất trình bày:

Vào năm 2015 vợ chồng ông T1, bà A có nhận chuyển nhượng của anh La Văn H2 (con đẻ bà Lô Thị H) thửa đất số 112, tờ bản đồ 05, có diện tích 118,1 m², tọa lạc tại: khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An, thửa đất đã được cấp GCNQSD đất đứng tên vợ chồng ông (Nguyễn Văn T1, Võ Thị Lan A) vào ngày 07/12/2015. Thửa đất có vị trí tiếp giáp như sau: Phía bắc tiếp giáp quốc lộ G; Phía nam tiếp giáp đất của Trạm y tế thị trấn M; Phía đông tiếp giáp thửa đất số 111, tờ bản đồ 05; Phía tây tiếp giáp thửa đất số 146, tờ bản đồ 05 của bà Lô Thị H (Bà H đã chết - Hiện tại gia đình bà Lê Thị N đang ở trên đất).

Sau khi nhận chuyển nhượng, vào năm 2016 vợ chồng ông T1 đã xây dựng 01 ngôi nhà ống, lợp tôn để cho thuê. Thời điểm vợ chồng ông đến xây dựng thì tại thửa đất số 146, tờ bản đồ 05 gia đình bà Lê Thị N đã đến ở và xây dựng nhà trên đất. Vợ chồng ông T1 cứ bám tường nhà bà N đã xây dựng trước đó làm mốc giới kéo trở xuống đúng với hiện trạng gia đình ông đã được cấp GCNQSDĐ để xây nhà. Lúc xây dựng gia đình ông cũng không liên hệ với Ban địa chính thị trấn M để kiểm tra vị trí, sơ đồ thửa đất của gia đình mình.

Quá trình sử dụng đất gia đình ông T1 và gia đình bà Lê Thị N cũng không biết được việc xây dựng có sự chồng lấn. Đến tháng 3/2023 Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất số 146, tờ bản đồ 05 tại khối D, thị trấn M do có tranh chấp giữa gia đình bà Lô Thị H và bà Lê Thị N, lúc đó ông T1 được Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn mời đến chứng kiến và ký giáp ranh thì ông mới phát hiện việc tại thửa đất của bà Lô Thị H (thửa số 146, tờ bản đồ 05) thì gia đình bà Lê Thị N đã xây nhà lấn sang thửa đất của gia đình ông với diện tích 19,7m². Thực tế ông T1 chỉ biết được thửa đất nói trên đang đứng tên của bà Lô Thị H, còn việc lý do nào gia đình bà N đến ở thì ông không rõ.

Ngày 29/9/2023, UBND thị trấn M, huyện K đã tiến hành hòa giải việc tranh chấp đất đai giữa gia đình ông T1 và gia đình anh La Văn H2 (con đẻ bà Lô Thị H) và gia đình bà Lê Thị Nho . Tuy nhiên sau khi hòa giải các bên không tìm được tiếng nói chung.

Do đó nay ông T1 yêu cầu anh La Văn H2 (con đẻ bà Lô Thị H) là người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Lô Thị H phải tháo dỡ, di dời công trình đã xây dựng trên đất để trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm cho gia đình ông là 19,7m². Việc vay mượn tiền giữa bà N, bà H cũng như việc tranh chấp đất giữa hai bên thì ông T1, bà A không biết, không liên quan nên không có ý kiến gì.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản xác định được:

Đối với thửa đất đang tranh chấp là thửa đất số 146, tờ bản đồ 05 có vị trí tiếp giáp như sau như sau:

- Phía bắc tiếp giáp với hành lang quốc lộ G dài 4,81 mét.

- Phía tây tiếp giáp với thửa số 145, tờ bản đồ 05 dài 25,69 mét.

- Phía nam tiếp giáp với thửa số142 (DYT), tờ bản đồ 05 dài 3,68 mét.

- Phía đông tiếp giáp với thửa đất 112, tờ bản đồ 05 dài 26,13 mét.

Thửa đất tính theo giá thị trường có giá 1.099.000.000 đồng (Một tỷ, không trăm chín mươi chín triệu đồng).

Đối với phần diện tích đất đang tranh chấp (gia đình bà N xây lấn sang) nằm trong thửa đất số 112, tờ bản đồ 05 có vị trí tiếp giáp như sau:

- Phía bắc tiếp giáp với hành lang quốc lộ G dài 0,19 mét.

- Phía đông tiếp giáp với phần diện tích đất gia đình ông Nguyễn Văn T1 đang quản lý sử dụng dài 26,08 mét.

- Phía nam tiếp giáp với thửa số142 (DYT), tờ bản đồ 05 dài 1,32 mét.

- Phía tây tiếp giáp với thửa đất số 146, tờ bản đồ 05 dài 26,13 mét.

Phần diện tích đất đang tranh chấp (19,7 m2) nằm trong thửa đất số 112, tờ bản đồ 05 theo giá thị trường có giá 197.000.000 đồng (Một trăm chín mươi bảy triệu đồng).

Trên thửa đất số 146, tờ bản đồ 05 và phần diện tích đất đang tranh chấp nằm trong thửa số 112, tờ bản đồ 05 hiện bà Lê Thị N, ông Đặng Xuân P đang quản lý sử dụng có các công trình như sau: 01 ngôi nhà xây dạng ống, xây bằng gạch táp lô có chiều dài 10,20m, chiều rộng 05m, cao 4,40m có giá 80.169.000 đồng; 01 ki ốt lợp tôn phía trước nhà chính dài 9,60m, chiều rộng 05m có giá 36.817.000 đồng. (Ngôi nhà xây và ki ốt phía trước của bà Lê Thị N, ông Đặng Xuân P đã xây lấn sang thửa đất số 112, tờ bản đồ 05 với diện tích 19,7m²).

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 7 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

[5] Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 74, 147, 217, 218, 227, 228, 235 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 121, 122, 124, 127, 134, 137, 471, 473, 474, 478 Bộ luật dân sự 2005; Điều 615 Bộ luật dân sự 2015; Các điều 167, 188, 203 Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[6] Tuyên xử:

6.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Nho

Buộc người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Lô Thị H gồm có: Bà Lô Thị C, anh La Văn H1, anh La Văn H3, anh La Văn H2 phải thanh toán cho vợ chồng bà Lê Thị N, ông Đặng Xuân P số tiền nợ 1.099.000.000 đồng (Một tỷ, không trăm chín mươi chín triệu đồng). Số tiền thanh toán theo kỷ phần như sau: Bà Lô Thị C, anh La Văn H1, anh La Văn H3, anh La Văn H2 mỗi người phải thanh toán 274.750.000 đồng (Hai trăm bảy mươi tư triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

6.2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lô Thị H.

Vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Lô Thị H và bà Lê Thị N theo “Giấy thế chấp ốt gắn liền với đất” xác lập ngày 02/12/2015; “Giấy thế chấp nhà ở nằm trên đất” xác lập ngày 04/02/2016.

Buộc nguyên đơn bà Lê Thị N và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm ông Đặng Xuân P, anh Đặng Xuân V, anh Đăng Xuân M1, anh Đặng Xuân N1 phải trả lại cho những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Lô Thị H, gồm bà Lô Thị C, anh La Văn H1, anh La Văn H3, anh La Văn H2 thửa đất số 146, tờ bản đồ 05, có diện tích 109,9m² tại khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An có kích thước như sau:

- Phía bắc tiếp giáp với hành lang quốc lộ G dài 4,81 mét.

- Phía tây tiếp giáp với thửa số 145, tờ bản đồ 05 dài 25,69 mét.

- Phía nam tiếp giáp với thửa số142 (DYT), tờ bản đồ 05 dài 3,68 mét.

- Phía đông tiếp giáp với thửa đất 112, tờ bản đồ 05 dài 26,13 mét.

Buộc nguyên đơn bà Lê Thị N và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm ông Đặng Xuân P, anh Đặng Xuân V, anh Đăng Xuân M1, anh Đặng Xuân N1 phải giao lại cho những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Lô Thị H gồm bà Lô Thị C, anh La Văn H1, anh La Văn H3, anh La Văn H2 các tài sản trên đất gồm 01 ngôi nhà xây dạng ống, xây bằng gạch táp lô có chiều dài 10,20 m, chiều rộng 05 m, cao 4,40 m, có giá 80.169.000 đồng; 01 ki ốt lợp tôn phía trước nhà chính dài 9,60 m, rộng 05 m có giá 36.817.000 đồng.

Những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Lô Thị H gồm bà Lô Thị C, anh La Văn H1, anh La Văn H3, anh La Văn H2 được nhận lại toàn bộ thửa đất số 146, tờ bản đồ 05 tại khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An do và tài sản trên đất do nguyên đơn bà Lê Thị N và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm ông Đặng Xuân P, anh Đặng Xuân V, anh Đăng Xuân M1, anh Đặng Xuân N1 giao lại.

Buộc những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Lô Thị H, gồm bà Lô Thị C, anh La Văn H1, anh La Văn H3, anh La Văn H2 phải thanh toán lại cho nguyên đơn bà Lê Thị N, người có quyền lợi liên quan ông Đặng Xuân P giá trị các tài sản trên đất do bà N, ông V tạo dựng với số tiền 116.886.000 đồng (Một trăm mười sáu triệu, tám trăm tám mươi sáu nghìn đồng)

Nguyên đơn bà Lê Thị N, người có quyền lợi liên quan ông Đặng Xuân P được nhận lại giá trị tài sản trên đất với số tiền 116.886.000 đồng do bà Lô Thị C, anh La Văn H1, anh La Văn H3, anh La Văn H2 giao lại.

6.3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1.

Buộc những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Lô Thị H gồm bà Lô Thị C, anh La Văn H1, anh La Văn H3, anh La Văn H2 phải tháo dỡ, di dời các công trình xây dựng trên đất để trả lại cho ông Nguyễn Văn T1, bà Võ Thị Lan A phần diện tích xây dựng lấn chiếm 19,7m² nằm trong thửa đất số 112, tờ bản đồ 05 tại khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An. Phần đất xây dựng lấn chiếm phải trả lại có kích thước như sau:

- Phía bắc tiếp giáp với hành lang quốc lộ 7 A dài 0,19 mét.

- Phía đông tiếp giáp với phần diện tích đất gia đình ông Nguyễn Văn T1 đang quản lý sử dụng dài 26,08 mét.

- Phía nam tiếp giáp với thửa số142 (DYT), tờ bản đồ 05 dài 1,32 mét.

- Phía tây tiếp giáp với thửa đất số 146, tờ bản đồ 05 dài 26,13 mét.

Ông Nguyễn Văn T1, bà Võ Thị Lan A được nhận lại toàn bộ diện tích phần đất xây dựng lấn chiếm 19,7m² nằm trong thửa đất số 112, tờ bản đồ 05 tại khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An do bà Lô Thị C, anh La Văn H1, anh La Văn H3, anh La Văn H2 giao lại.

(Việc tuyên trả lại thửa đất 146, tờ bản đồ 05 và phần diện tích tích xây dựng lấn chiếm nằm trong thửa số 112, tờ bản đồ 05 có sơ đồ kèm theo bản án)

6.4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện bổ sung của bà Lê Thị N về việc yêu cầu bà Lô Thị H trả cho bà Lê Thị N số tiền nợ đã vay 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng)

6.5. Đình chỉ yêu cầu phản tố bổ sung của bà Lô Thị H về việc yêu cầu bà Lê Thị N phải bồi thường giá trị 02 ki ốt bà N đã phá dỡ số tiền 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu) và tiền thiệt hại do không cho thuê ki ốt tính từ tháng 4 năm 2016 cho đến tháng 02 năm 2020 (trung bình tiền cho thuê 3.500.000 đồng/tháng/1kiốt) là 322.000.000 đồng (ba trăm hai mươi hai triệu đồng), tổng cộng là 442.000.000 đồng (bốn trăm bốn mươi hai triệu).

Ngoài ra Bản án còn tuyên án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 14 tháng 12 năm 2023, nguyên đơn Bà Lê Thị N kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm quyết định như vậy là không đúng nội dung khởi kiện ảnh hưởng đến quyền lợi của bà N. Bà N yêu cầu bà Lô Thị H trả nợ số tiền 1.333.650 đồng, chứ không phải trả nợ theo số tiền định giá tài sản của Tòa án đối với tài sản của bà Lô Thị H. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xủ buộc những người kế thừa quyền nghĩa vụ của bà Lô Thị H phải thanh toán toàn bộ số nợ là 1.333.650.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Lê Thị N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và nội dung khởi kiện.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng, nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn bà Lô Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Do có mối quan hệ quen biết làm ăn với nhau n gày 6/10/2015, bà N đã cho bà H vay số tiền 1.333.650.000 đồng để đảo khế ngân hàng, vay tiền mặt không yêu cầu lãi suất, hai bên có ghi giấy “vay tiền đảo khế” và thỏa thuận khi nào đảo khế ngân hàng xong sẽ trả lại số tiền cho bà N. Tuy nhiên, sau khi đảo khế ngân hàng xong bà H không trả lại tiền cho bà N như thỏa thuận, bà N đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà H không trả. Do chưa có tiền trả nên ngày 02/12/2015 bà H viết giấy “Thế chấp ốt gắn liền với đất” có nội dung nếu không trả nợ thì bà N có quyền sử dụng ốt gắn liền với đất, tại khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An. Đến ngày 4/01/2016 bà H lại viết “Giấy vay tiền” xác nhận nội dung bà H nợ số tiền 1.333.650.000 đồng, cam kết sẽ trả trước 01 tỷ, số tiền còn lại trả dần. Sau đó không có tiền trả bà H lại tiếp tục viết giấy “thế chấp nhà nằm trên đất ở” đề ngày 4/02/2016, có nội dung, thế chấp nhà 02 tầng gắn liền với quyền sử dụng đất của bà Lô Thị H, tại khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An (đất này nằm sát với ki ốt mà bà H đã viết ngày 02/12/2015) khi nào trả hết nợ cho bà N thì bà N trả lại đất và nhà, các giấy tờ trên bà H. Bà Lê Thị N khởi kiện yêu cầu bà Lô Thị H phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ 1.333.650.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 12/3/2020 bà Lô Thị H chết, Tòa án xác định những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứa nhất của bà Lô Thị H gồm: Anh La Văn H2, bà Lô Thị C, anh La Văn H1, anh La Văn H3 là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Lô Thị H thanh toán số tiền nợ mà bà H đã vay của bà N.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị N thấy rằng: Căn cứ Giấy vay tiền đề ngày 6/10/2015 giữa bà Lê Thị N và bà Lô Thị H có sự thỏa thuận thống nhất giữa hai bên, nội dung trong giấy vay tiền ghi rõ bà H vay tiền để đảo khế ngân hàng, có cam kết trả nợ là sau khi đảo khế ngân hàng xong sẽ trả tiền lại cho bà N. Đây là giao dịch hoàn toàn tự nguyện, hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và không thỏa thuận lãi suất, hai bên đều có năng lực hành vi dân sự, giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Việc bà H không thanh toán nợ cho bà N là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tuy bà H (khi còn sống) khai nại Giấy vay tiền đảo khế ngày 6/10/2015, Giấy vay tiền ngày 4/01/2016, Giấy thế chấp nhà ở nằm trên đất là do bà N ép bà H viết nhưng bà H và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Lô Thị H không đưa ra được các tài liệu chứng cứ, chứng minh. Mặt khác, tại phiên tòa sơ thẩm anh La Văn H2 là người đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Lô Thị H cũng xác định, thừa nhận các giấy vay tiền và các giấy thế chấp tài sản là do bà Lô Thị H viết, ký và số tiền bà H đã vay của bà N là 1.333.650.000 đồng.

Ngày 12/3/2020, bà Lô Thị H chết, trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà H chết để lại di sản là thửa đất số 146, tờ bản đồ số 5 và một số loại tài sản trên đất, tại khối D, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An. Nay bà Lô Thị H đã chết, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà H là người kế thừa quyền lợi, nghĩa vụ của bà Lô Thị H gồm; bà Lô Thị C, anh La Văn H2, anh La Văn H1, anh La Văn H3 liên đới phải thanh toán cho vợ chồng bà Lê Thị N, ông Đặng Xuân P số tiền nợ 1.333.650.000 đồng (một tỷ ba trăm ba mươi ba triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng) (Bà Lô Thị C, anh La Văn H2, anh La Văn H1, anh La Văn H3 chỉ phải trả nợ trong phạm vi di sản của bà Lô Thị H để lại). Tòa cấp sơ thẩm xác định các đồng thừa kế của bà Lô Thị H phải chịu nghĩa vụ thanh toán số tiền số tiền 1.099.000.000 đồng theo kết quả định giá tài sản là không đúng. Bởi vậy, kháng cáo của bà Lê Thị N là có căn cứ chấp nhận sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng, buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Lô Thị H liên đới phải thanh toán cho vợ chồng bà Lê Thị N, ông Đặng Xuân P số tiền nợ 1.333.650.000 đồng (Bà Lô Thị C, anh La Văn H2, anh La Văn H1, anh La Văn H3 chỉ phải trả nợ trong phạm vi di sản của bà Lô Thị H để lại).

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí phúc thẩm: Bà Lê Thị N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị N sửa bản án sơ thẩm. Tuyên xử:

  1. Buộc những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị đơn bà Lô Thị H gồm: Bà Lô Thị C, anh La Văn H2, anh La Văn H1, anh La Văn H3 liên đới phải thanh toán cho vợ chồng bà Lê Thị N, ông Đặng Xuân P số tiền nợ 1.333.650.000 đồng (một tỷ ba trăm ba mươi ba triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng) (Bà Lô Thị C, anh La Văn H2, anh La Văn H1, anh La Văn H3 chỉ phải trả nợ trong phạm vi di sản của bà Lô Thị H để lại).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm đối với bà Lê Thị Nho .
  3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 06/2023/DSST ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An không bị kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Kỳ Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Kỳ Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Phấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/DS-PT ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản; yêu cầu vô hiệu hđ thế chấp; đòi lại tài sản; tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 58/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; yêu cầu vô hiệu HĐ thế chấp; đòi lại tài sản; tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HĐ VAY TS, Y/C VÔ HIỆU HĐ THẾ CHẤP, ĐÒI LẠI TS, TC QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger