|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 58/2024/DS-PT Ngày: 21/05/2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Võ Đình Phương |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Trung Tín |
| Bà Lê Thị Hiền |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16, 17 và 21 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2023/TLPT-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 51/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1947. Địa chỉ: Tổ dân phố I Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa (Theo giấy ủy quyền ngày 14/4/2021). Có mặt.
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Lê Thị Hồng V, sinh năm 1975. Địa chỉ: P, sảnh A, chung cư A T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 21/01/2022). Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Cao Như Ý thuộc Công ty L1, Đoàn Luật sư tỉnh K. Địa chỉ: F H, phường X, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân phường N, thị xã N, tinh K. Địa chỉ: Tổ dân phố F B, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965. Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Tổ dân phố I Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn M, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Trường A, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1977. Địa chỉ: Tổ dân phố I, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ dân phố I, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Ông Lê Ngọc L, sinh năm 1954. Địa chỉ: Tổ dân phố I, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Bà Ngô Thị N, sinh năm 1954. Địa chỉ: Tổ dân phố I, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị B, sinh năm 1944. Địa chỉ: Tổ dân phố I, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Ngô Thanh T3, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ dân phố I, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
* Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Ngô Thị Đ và đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Văn T trình bày: Cha mẹ ông là ông Nguyễn Văn P (chết ngày 02/8/1998) và bà Ngô Thị Đ có 05 người con chung là ông Nguyễn Văn Đ1, ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Trường A, ông Nguyễn Văn T2 và ông (Nguyễn Văn T). Năm 1997, ông P, bà Đ làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 513, tờ bản đồ 13, diện tích 1.500m², nay thuộc tổ dân phố I, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa đứng tên hộ ông Nguyễn Văn P và bà Ngô Thị Đ ngày 06/12/2000. Năm 2003, Ủy ban nhân dân xã N (nay là phường N) mở đường bê tông từ đường D đến Miếu H, quy hoạch khu dân cư đi qua phần đất của gia đình ông nên vận động gia đình ông giao diện tích đất là 258m² (dài 43m, rộng 6m) thuộc thửa đất trên để lấy đất làm đường đi và sẽ cấp cho gia đình ông một thửa đất khác với diện tích 260m² thuộc tổ I Đ, N, nội dung thỏa thuận nói trên được UBND xã N lập biên bản hoán đổi đất ngày 29/6/2003. Thửa đất được hoán đổi này giáp ranh với thửa đất 513. Sau khi được UBND xã N bàn giao đất, gia đình ông trực tiếp quản lý, sử dụng. Xung quanh thửa đất là hàng rào trụ bê tông và dây kẽm gai, riêng hàng rào phía tây thửa đất có bụi dúi để phân chia ranh giới đất với gia đình bà B. Gia đình ông có đến UBND xã N để làm thủ tục cấp GCN nhưng họ chưa làm nên gia đình ông chưa làm thủ tục cấp GCN, sau đó bà H tranh chấp cho rằng phần diện tích gia đình ông được UBND xã N hoán đổi là của bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lê Ngọc L.
Qua xem xét, thẩm định tại chỗ, hiện trạng thửa đất gia đình ông sử dụng được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Khánh Hòa cung cấp bản đồ hiện trạng có diện tích 274,7m² bao gồm một phần thửa 791 với diện tích 152,6m² và thửa 1060 với diện tích 122,1m². Ông T cho rằng sau khi được UBND xã N hoán đổi đất thì gia đình ông sử dụng hiện trạng này từ đó cho đến nay. Từ khi được hoán đổi, gia đình ông không biết diện tích đất đó thuộc thửa số mấy, chỉ đến khi bà H tranh chấp và hòa giải tại UBND phường N thì gia đình ông mới nghe nói thửa đất gia đình được UBND xã N hoán đổi trước đây thuộc thửa 791, tờ bản đồ 13 phường N. Do đó ông yêu cầu Tòa án xác định phần diện tích hiện trạng gia đình ông sử dụng từ sau khi được hoán đổi đến nay là của bà Đ để bà Đ được thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất nói trên theo sơ đồ thửa đất do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh K cung cấp.
* Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H - bà Lê Thị Hồng V trình bày: Ngày 09/02/2007, bà Nguyễn Thị H nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị T1 thửa đất 551, tờ bản đồ 13 tại thôn Đ, xã N, có diện tích 996m² bằng “Giấy sang nhượng đất”. Nguồn gốc thửa 551 do bà T1 nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lê Ngọc L và bà Ngô Thị Na . Năm 2005, Phòng Nông nghiệp - Tài nguyên và Môi trường huyện N đo chỉnh lý tách thửa 551 thành 04 thửa gồm các thửa 791, 792, 793 và 551. Năm 2015, thửa 793 được chỉnh lý và tách thành các thửa 836 và 837, thửa 551 nhỏ được chỉnh lý và tách thành các thửa 1060 và 1143. Trong đó thửa 791 theo hồ sơ địa chính năm 2002 xác định người sử dụng là bà Ngô Thị Đ, với diện tích 260m². Nguyên đơn cho rằng thửa đất này được UBND xã N hoán đổi đất để làm đường sau khi thu hồi một phần thửa đất 513 của gia đình nguyên đơn là không đúng, biên bản hoán đổi đất ngày 29/6/2003 vô hiệu và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì:
- Biên bản hoán đổi đất ngày 29/6/2003 được lập không căn cứ vào bất kỳ văn bản nào của UBND xã N hay văn bản chỉ đạo của cấp trên;
- Thành phần tham gia được nêu trong Biên bản hoán đổi đất không có Thường trực UBND xã nên không có căn cứ xác định thành phần đó có được giao nhiệm vụ đã thực hiện việc hoán đổi đất cho bà Đ không.
- Nội dung trong biên bản hoán đổi đất chỉ thể hiện UBND xã N sẽ cấp lại cho bà Đ diện tích đất 260m² (dài 20m, rộng 13m) chứ không thể hiện sẽ bố trí cho bà Đ thửa đất 791, tờ bản đồ 13 phường N;
- Không có tài liệu nào thể hiện UBND xã N bố trí thửa đất 791 cho bà Đ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường N trình bày: Theo hồ sơ địa chính lưu tại UBND phường N, thửa đất 791, tờ bản đồ 13 được tách từ thửa 551, tờ bản đồ 13 phường N. Theo sổ mục kê thiết lập năm 2002, thửa đất 551, tờ bản đồ 13, diện tích 1.276m², loại đất LK 668m² và Hg 608m², chủ sử dụng: đất quy hoạch. Đến năm 2005, thửa đất 551 được chỉnh lý tách thành 04 thửa theo trích sao nội dung chỉnh lý, cập nhật hồ sơ địa chính của Phòng Nông nghiệp - Tài nguyên và Môi trường huyện N (nay là Phòng Tài nguyên & Môi trường thị xã N) ngày 31/01/2005 gồm:
- Thửa 791: diện tích 260m², loại đất CLN, chủ sử dụng Ngô Thị Đ
- Thửa 792: diện tích 160m², loại đất CLN, chủ sử dụng Ngô Cường
- Thửa 793, diện tích 280m², loại đất CLN, chủ sử dụng Lê Ngọc L
- Thửa 551, diện tích 576m², loại đất BCS.
Lý do thay đổi: chỉnh lý chia tách thửa đất 551 thành 4 thửa để xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hiện trạng và nguồn gốc sử dụng đất. Bà Ngô Thị Đ được UBND phường N hoán đổi đất theo biên bản hoán đổi đất ngày 29/6/2003 của UBND xã N do thu hồi diện tích đất của hộ bà Đ với diện tích 258m² để làm đường giao thông và đề nghị giao lại cho hộ bà Đ với diện tích 260m². Tuy nhiên hiện trạng sử dụng đất của bà Đ là một phần diện tích thửa 791 và thửa 1060 nên việc đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ thì UBND phường thực hiện theo quy định của pháp luật.
Đối với việc hoán đổi đất thì không có văn bản nào thể hiện bố trí thửa đất để hoán đổi, chỉ có biên bản hoán đổi ngày 29/6/2003, UBND phường hoán đổi cho bà Đ với diện tích 260m² thuộc thửa 551, tờ bản đồ 13 phường N do thu hồi đất của bà Đ để làm đường giao thông. Hiện nay UBND phường N không có tài liệu lưu trữ thể hiện việc bàn giao thửa đất 791, tờ bản đồ 13 cho bà Đ; không lưu trữ tài liệu thể hiện phê duyệt về quy hoạch mở đường bê tông từ đường D đến Miếu họ Ngô. Văn bản, tài liệu phê duyệt khu dân cư năm 2003 liên quan đến thửa đất 551 và phần diện tích đất của bà Đ đổi đất để làm đường gồm Quyết định số 928/QĐ-UB ngày 10/6/2003 về việc phê duyệt hồ sơ quy hoạch phân lô chi tiết khu dân cư thôn Đ, xã N, huyện N và Sơ đồ bản vẽ quy hoạch phân lô khép kín khu dân cư thôn Đ, xã N, huyện N.
UBND phường N đề nghị được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại các phiên tòa xét xử và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Ngọc L trình bày: Nguồn gốc thửa đất 791 mà bà Đ đang tranh chấp với bà H là của UBND xã N quản lý. Trước đây ông không biết số thửa, đến năm 2017, khi Thanh tra thị xã N làm việc thì ông mới biết đó là thửa 791. Thời điểm hoán đổi đất cho hộ bà Đ thì nghe UBND xã N có chủ trương mở đường cho người dân đi nên UBND xã N thành lập các tổ đi vận động người dân hoán đổi đất để mở đường. Cán bộ địa chính là ông Nguyễn N1 lập biên bản hoán đổi, hộ gia đình bà Đ đồng ý giao một phần diện tích đất của gia đình bà và ông N1 chỉ diện tích đất được hoán đổi cho gia đình bà Đ, là thửa đất liền kề đất của bà Đ đã hoán đổi. Ông không biết thửa đất được hoán đổi là thửa số mấy. Khi Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, ông có tham dự nên biết thửa đất bà Đ đang tranh chấp với bà H. Ông không xác định được đó có phải là thửa đất mà UBND xã N đã hoán đổi cho bà Đ năm 2003 không nhưng trước đây thấy gia đình bà Đ trồng khoai lang, khoai mì, sau đó trồng cây ăn trái, trồng cây dương.
Thửa 791 không phải của ông, ông không chuyển nhượng cho bà H. Năm 2003 và 2005, vợ chồng ông chuyển nhượng thửa 550 và 793 cho bà T1. Năm 2017, bà H đến gặp vợ chồng ông nhờ ký lại giấy sang nhượng đất ghi lùi ngày là 21/9/2003, bà H nói để làm lại thủ tục ban đầu, vì khi bán đất thửa 793 cho bà T1 thì thửa đất không quay ra mặt đường, sau này có đường đi nên ký lại để thửa đất quay ra mặt đường. Ông không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà Đ, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị N thống nhất với ý kiến của ông L.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 thống nhất với ý kiến của bị đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2, ông Nguyễn Văn Đ1, ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị Trường A thống nhất với ý kiến của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B trình bày: Phần diện tích đất nằm ngoài hiện trạng sử dụng của gia đình bà Đ về phía tây là của gia đình bà sử dụng đã lâu, nằm trong đất viên gia của gia đình bà, trước đây là của ông Ngô Đ2 khai hoang sử dụng, trên đất có trồng 02 cây dừa và 01 bụi dúi, sau đó cho vợ chồng bà và hiện tại bà đã cho con bà là ông Ngô Thanh T3 sử dụng. Bà không đồng ý Tòa án giải quyết giao phần diện tích đất này cho bà Đ hay giao cho bà H mà phải để cho gia đình bà sử dụng vì đây là đất của gia đình bà. Bà không đồng ý tham gia công khai chứng cứ và hòa giải tại Tòa án đồng thời bà xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Thanh T3 thống nhất với ý kiến của bà B.
Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Đ.
Xác định bà Ngô Thị Đ được quyền sử dụng diện tích đất theo hiện trạng là 274,7 m² gồm một phần thửa 791 với diện tích 152,6 m² và thửa 1060 với diện tích 122,1 m², tờ bản đồ số 13, tổ dân phố I, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vị trí thửa đất được xác định theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 05 ngày 24/8/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh K cung cấp (kèm theo bản án).
Bà Ngô Thị Đ được liên hệ cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 274,7 m² gồm một phần thửa 791 và thửa 1060, tờ bản đồ số 13, tổ dân phố I, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa theo bản đồ hiện trạng nói trên.
Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 791, tờ bản đồ số 13 phường N.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 18/9/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn vẫn giữ yêu cầu kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm căn cứ vào Biên bản hoán đổi đất xác định công nhận diện tích đất tranh chấp thuộc về bà Đ là không đúng. Căn cứ vào Giấy sang nhượng ngày 21/9/2003, diện tích thửa 791 và 1060 là của bà H. Do đó, bản án sơ thẩm thu thập chứng cứ không đầy đủ nên giải quyết không đúng, gây ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của bà H nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.
- Nguyên đơn cho rằng theo Biên bản hoán đổi đất ngày 29/6/2003, gia đình ông đã thống nhất đổi một phần diện tích thửa 513 để nhà nước làm đường như hiện nay. Ngược lại, Ủy ban nhân dân phường N đã giao lại cho gia đình ông phần đất hiện nay đang tranh chấp. Việc hoán đổi đất có đại diện của chính quyền địa phương, thôn trưởng và gia đình nguyên đơn. Diện tích sau khi hoán đổi được gia đình rào quản lý canh tác ổn định từ đó cho đến nay và được chính quyền địa phương thừa nhận. Do đó, bà H cho rằng phần đất này bà đã mua của ông Lê Ngọc L theo giấy chuyển nhượng như nêu trên là không có cơ sở và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tại phiên tòa phúc thẩm: Đối với giấy sang nhượng ngày 21/9/2003, bị đơn căn cứ cho rằng thửa đất 551 nguồn gốc của ông Lê Ngọc L khai hoang năm 1976 và đăng ký với chính quyền địa phương quản lý thửa đất này nên ông L có quyền chuyển nhượng cho bị đơn từ năm 2003, vì vậy thửa 551 toàn bộ thuộc về bị đơn (trong đó có phần diện tích tranh chấp). Đại diện Viện kiểm sát cho rằng theo Sổ mục kê được lập năm 1995 đến năm 2002, tại trang 112 cho thấy thửa đất 551 là đất quy hoạch do địa phương quản lý nên việc ông L và bên bị đơn lập giấy sang nhượng thửa đất trên vào năm 2003 là trái pháp luật. Mặt khác, trường hợp thửa 551 là của ông L đăng ký chủ sử dụng đất thì vào thời điểm lập Biên bản hoán đổi đất ngày 29/6/2003, ông L là thôn trưởng thuộc thành phần Hội đồng hoán đổi đất đã chứng kiến và chỉ phần đất mà ủy ban đã đổi cho gia đình bà Đ. Như vậy, ông L đã thừa nhận phần đất này thuộc đất nhà nước, không phải phần đất của ông L.
Căn cứ vào Biên bản hoán đổi đất ngày 29/6/2003 được chính quyền địa phương lập có đầy đủ thành phần đại diện của địa phương thực hiện chính sách hoán đổi đất để làm đường giao thông nông thôn. Mặt dù hiện nay chỉ còn bản photo nhưng nội dung và sự việc này được chính quyền địa phương, những người làm chứng thuộc thành phần lập biên bản thời điểm đổi đất thừa nhận sự việc đúng như nội dung biên bản đổi đất nêu trên. Do đó, phần diện tích tranh chấp và nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là có cơ sở. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ngày 07/09/2023, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử vụ án. Ngày 16/09/2023, bị đơn kháng cáo bản án nêu trên. Như vậy, đơn kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Về nguồn gốc đất, việc hoán đổi và thực tế sử dụng:
- Về nguồn gốc đất: Theo Sổ mục kê đất được lập năm 1995 và được Ủy ban nhân dân xã N (nay là phường N) ký xác nhận ngày 25/10/2002. Tại trang 112, tờ bản đồ 13, xã N cho thấy thửa đất 550, diện tích 324m² được ông Lê Ngọc L đăng ký kê khai quyền sử dụng đất tại chính quyền địa phương. Đối với thửa đất 551, diện tích 1.276m² cho thấy tên chủ sử dụng đất là đất quy hoạch (do Ủy ban xã N quản lý). Qua thông tin đăng ký tại Sổ mục kê đất của chính quyền địa phương có cơ sở xác định thửa đất 551 không phải của ông Lê Ngọc L đăng ký kê khai chủ sử dụng đất.
- Việc hoán đổi đất: Theo biên bản hoán đổi đất ngày 29/6/2003 được bên nguyên đơn cung cấp, mặt dù chỉ còn bản photo nhưng được tất cả những người làm chứng trong thành phần Hội đồng hoán đổi đất của địa phương và Ủy ban nhân dân phường N thừa nhận sự việc hoán đổi đất là có thật theo chính sách phát triển giao thông nông thôn tại thời điểm đó. Theo nội dung của biên bản này gia đình của bà Đ đã hoán đổi 258m² thuộc thửa 513 để nhận 260m² đất của Ủy ban quản lý (thuộc thửa 551), tờ bản đồ số 13 thôn Đ, xã N, huyện N (nay thị xã N). Như vậy, diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc của gia đình nguyên đơn được Ủy ban nhân dân xã N hoán đổi đất là đúng nên nguyên đơn trình bày là có cơ sở.
- Thực tế quản lý, sử dụng đất đối với thửa 551: Theo lời trình bày của bên nguyên đơn, ông Lê Ngọc L, bà Trần Thị B và được chính quyền địa phương thừa nhận thời điểm trước năm 2003 thực tế tại thửa 551 có các hộ gia đình quản lý, sử dụng đất gồm: Hộ ông Lê Ngọc L, ông Ngô C (chồng bà Trần Thị B) và một phần đất quy hoạch do Ủy ban quản lý. Đối với hộ ông Nguyễn Văn P (chồng bà Ngô Thị Đ) quản lý thửa đất 513 giáp ranh thửa 551. Ngày 31/01/2005, Phòng Nông nghiệp - Tài nguyên và Môi trường huyện N tiến hành chỉnh lý tách thửa 551 nêu trên. Như vậy, kể từ thời điểm này thửa 551 được tách thành 04 thửa theo thực tế chủ sử dụng đất như sau: Thửa 791, diện tích 260m², chủ sử dụng đất bà Ngô Thị Đ; Thửa 792, diện tích 160m², chủ sử dụng đất ông Ngô C (chồng bà Trần Thị B); Thửa 793, diện tích 280m², chủ sử dụng đất ông Lê Ngọc L; thửa 551 (còn lại), diện tích 576m², chủ sử dụng đất Ủy ban nhân dân xã N. Như vậy, qua thực tế sử dụng và được chính quyền địa phương chỉnh lý tách thửa theo đúng hiện trạng sử dụng thì ông Lê Ngọc L chỉ quản lý diện tích thuộc một phần thửa 551. Đồng thời, theo kết quả xem xét thẩm định ngày 25/7/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa cho thấy: Sau khi tách thửa thì phần đất ủy ban hoán đổi cho gia đình bà Đ thuộc thửa 1060 và một phần thửa 791. Theo kết quả chỉnh lý tách thửa nêu trên thì phần đất tranh chấp của thửa 791 và thửa 1060 (tách ra từ thửa 551 còn lại) đều thuộc chủ sử dụng đất là Ủy ban nhân dân xã N (nay là phường N). Như vậy, trước khi hoán đổi đất phần diện tích tranh chấp thuộc Ủy ban nhân dân xã N quản lý. Do đó, nguyên đơn khởi kiện đòi lại phần đất được hoán đổi nêu trên là có cơ sở.
[2.2] Giấy sang nhượng đất ngày 21/9/2003: Theo phân tích trên cho thấy nguồn gốc kê khai thửa đất 551 là đất quy hoạch do Ủy ban xã N quản lý. Tuy nhiên, trên thửa đất 551 có một số chủ sử dụng khác cùng với ủy ban quản lý sử dụng. Trong đó, ông Lê Ngọc L chỉ là chủ sử dụng một phần diện tích thửa 793, diện tích 280m² và bà Đ được sử dụng một phần diện tích sau khi được hoán đổi với ủy ban nhân dân. Do đó, bị đơn cho rằng toàn bộ thửa đất 551, diện tích 1.276m², tờ bản đồ 13 của ông Lê Ngọc L khai hoang và đăng ký với chính quyền địa phương là không có cơ sở. Như vậy, bên bị đơn cung cấp giấy sang nhượng nêu trên với nội dung ông L chuyển nhượng toàn bộ diện tích thửa 551 là trái quy định pháp luật.
Trên cơ sở phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
* Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí tòa án số AA/2022/0001388 ngày 29/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà H đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
* Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Đình Phương |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi ...... giờ ..... phút, ngày 17 tháng 5 năm 2024
Tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình P1
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung T5
Bà Lê Thị H1
Tiến hành nghị án đối với vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 120/2023/TLPT-DS ngày 31/10/2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa:
* Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1947. Địa chỉ: Tổ dân phố I Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa (Theo giấy ủy quyền ngày 14/4/2021).
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Lê Thị Hồng V, sinh năm 1975. Địa chỉ: P, sảnh A, chung cư A T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 21/01/2022).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Cao Như Ý thuộc Công ty L1, Đoàn Luật sư tỉnh K. Địa chỉ: F H, phường X, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân phường N, thị xã N, tinh K. Địa chỉ: Tổ dân phố F B, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965. Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Tổ dân phố I Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn M, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
- Bà Nguyễn Thị Trường A, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1977. Địa chỉ: Tổ dân phố I, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ dân phố I, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Lê Ngọc L, sinh năm 1954. Địa chỉ: Tổ dân phố I, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
- Bà Ngô Thị N, sinh năm 1954. Địa chỉ: Tổ dân phố I, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
- Bà Trần Thị B, sinh năm 1944. Địa chỉ: Tổ dân phố I, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Ngô Thanh T3, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ dân phố I, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Căn cứ vào các tại liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
1. Về điều luật áp dụng: Biểu quyết 3/3 thống nhất áp dụng các điều luật sau:
- Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Về các vấn đề giải quyết vụ án: Biểu quyết 3/3 thống nhất:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
3.Các vấn đề khác: Biểu quyết 3/3 thống nhất những vấn đề sau:
* Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí tòa án số AA/2022/0001388 ngày 29/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà H đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
* Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nghị án kết thúc vào hồi .... giờ ..... ngày 21/5/2024.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 58/2024/DS-PT ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 58/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
