|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27/12/2023 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thảo Nguyên và ông Trần Văn Tuyến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 53/2023/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Trần Hữu T, sinh năm 1997; hộ khẩu thường trú: thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1998; hộ khẩu thường trú: thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Q và bà Hoàng Thị X; địa chỉ: thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/9/2023; bản trình bày ý kiến ngày 20/9/2023, anh Trần Hữu T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Hữu T và chị Nguyễn Thị N kết hôn ngày 12/3/2018 tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Cuối năm 2020, chị Nguyễn Thị N xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Do khoảng cách về địa lý nên vợ chồng rất ít liên lạc với nhau và vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Vì vậy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng lạnh nhạt. Nhận thấy hôn nhân không thể kéo dài, lâm vào tình trạng trầm trọng nên anh T muốn ly hôn với chị N.
- Về con chung: Có 01 người con chung là cháu Trần Khánh L, sinh ngày 02/10/2018. Hiện tại, cháu L đang ở với ông, bà ngoại tại thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị. Ngày 06/10/2023, anh T tiếp tục xuất khẩu lao động làm việc tại Nhật Bản nên không thể chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, anh T đồng ý giao con chung cho chị N nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng; đồng thời, uỷ quyền cho ông Nguyễn Văn Q và bà Hoàng Thị X (bố mẹ của Nguyễn Thị N) chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L trong thời gian chị N làm việc tại Nhật Bản.
- Về nợ chung, tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 28/11/2023, chị Nguyễn Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Trong quá trình chung sống do không hợp về tính cách nên bất đồng ý kiến, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Nay, anh T yêu cầu ly hôn thì chị N đồng ý.
- Về con chung: Chị N có nguyện vọng được nuôi con chung và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng. Vào giữa tháng 12/2023, chị N tiếp tục xuất khẩu lao động tại Nhật Bản nên không thể tham gia phiên toà, hoà giải. Vì vậy, chị N đề nghị Toà án xét xử vắng mặt và uỷ quyền cho ông Q và bà X chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L trong thời gian chị N làm việc tại Nhật Bản
- Về nợ chung, tài sản chung: Không có.
Tại bản xác minh ngày 06 tháng 12 năm 2023, bà Hoàng Thị X (mẹ của chị Nguyễn Thị N) trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị N kết hôn ngày 12/3/2018. Sau khi kết hôn thì anh T và chị N làm công nhân tại Đà Nẵng. Tháng 10/2018, chị Ngọc s cháu L thì chị N và cháu L ở với ông Q và bà X; anh T sống với bố mẹ anh T. Tháng 7/2019, anh T xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Tháng 12/2021, chị N xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Thời kỳ vợ chồng anh T, chị N sinh sống tại Việt Nam thì vợ chồng chung sống hoà thuận. Sau khi anh T xuất khẩu lao động tại Nhật Bản thì gia đình biết giữa anh T và chị N có nhiều bất đồng, mâu thuẫn. Nay, anh T yêu cầu ly hôn với chị N thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Có 01 người con chung là cháu Trần Khánh L, sinh ngày 02/10/2018. Cháu L ở với ông Q và bà X từ nhỏ cho đến nay. Cháu L đang học T1 mầm non thôn P, xã V, huyện V. Nếu anh T và chị N ly hôn thì đề nghị Toà án giao con chung cho chị N nuôi dưỡng, chăm sóc. Tuy nhiên, hiện nay chị N tiếp tục xuất khẩu lao động tại Nhật Bản nên bà X đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L trong thời gian chị N đi xuất khẩu lao động và đồng ý nhận các giấy tờ của Toà án thay cho chị N.
Hiện nay, sắp vào vụ mùa nên công việc bận rộn nên đề nghị Toà án tiến hành xét xử vắng mặt và cho phép vợ chồng bà X vắng mặt tại phiên toà, phiên hoà giải.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị trình bày ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81. 82, 83, 104, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Hữu T được ly hôn với chị Nguyễn Thị N.
- - Về con chung: Giao cháu Trần Khánh L, sinh ngày 02/10/2018 cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, hiện nay chị N đang xuất khẩu lao động tại Nhật Bản nên tạm giao cho ông Q và bà X có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L trong thời giann chị N đang làm việc tại Nhật Bản.
- - Về cấp dưỡng: Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu L với mức 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu L thành niên và có khả năng lao động.
- - Về án phí: anh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Tại thời điểm anh T nộp đơn ly hôn chị N thì anh T đang ở Việt Nam, chị N đang làm việc tại Nhật Bản. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N đã nhập cảnh về Việt Nam và đến làm việc tại Tòa án và có bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của anh T và sau đó xuất cảnh sang Nhật Bản. Như vậy, vụ án có đương sự ở nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh Quảng Trị theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 của BLTTDS.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân:
Anh T và chị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 12/3/2018 tại U, huyện V, tỉnh Quảng Trị. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị N là hợp pháp. Nay, anh T khởi kiện yêu cầu ly hôn chị N nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS để xem xét giải quyết vụ án.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Hữu T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Sau khi kết hôn, anh T và chị N sống với nhau tại Đà Nẵng. Tháng 7/2019, anh T xuất khẩu lao động tại Nhật Bản; cuối năm 2021, chị N xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Tuy cùng ở Nhật Bản nhưng khoảng cách địa lý xa nhau nên vợ chồng rất ít liên lạc và vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Sau khi anh T nộp đơn ly hôn, chị N đã trở về Việt Nam và chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý ly hôn với anh T. Như vậy, đời sống chung vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, cả 02 đồng ý ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử cần căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T để xem xét cho anh T được ly hôn đối với chị N.
[3]. Về con chung:
Anh T và chị N có con chung là cháu Trần Khánh L, sinh ngày 02/10/2018. Anh T và chị N đều thống nhất giao con chung cho chị N nuôi dưỡng và anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng. Xét thấy, việc anh T tự nguyện và chị N đồng ý việc anh T cấp dưỡng nuôi con là phù hợp và đảm bảo quyền lợi cho con chưa thành niên. Do đó, cần giao cháu Trần Khánh L cho chị N nuôi dưỡng và anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho chị N với số tiền 3.000.000 đồng/tháng, thời gian dưỡng từ tháng 01/2024 cho đến khi cháu L thành niên và có khả năng lao động.
Tại biên bản xác minh ngày 06 tháng 12 năm 2023, bà Hoàng Thị X (mẹ chị N) đề nghị Toà án giao cháu L cho chị N nuôi dưỡng, chăm sóc và đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L trong thời gian chị N đi xuất khẩu lao động. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho cháu L, cần giao cháu L cho ông Q và bà N (bố mẹ chị N) trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu trong L thời gian chị N chưa về lại Việt Nam.
[4]. Về tài sản chung và nợ chung:
Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5]. Về án phí:
Anh Trần Hữu T phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 71, 81, 82, 83, 104, 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Hữu T. Tuyên xử:
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Hữu T được ly hôn với chị Nguyễn Thị N.
- 2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Khánh L, sinh ngày 02/10/2018 cho chị Nguyễn Thị N nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn Q và bà Hoàng Thị X (là bố mẹ chị N) có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Khánh L trong thời gian chị N chưa trở lại Việt Nam.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm non, chăm sóc con chung và không ai có quyền cản trở.
- 3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Hữu T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu L với mức 3.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 01/2024 cho đến khi cháu L thành niên và có khả năng lao động.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Anh Trần Hữu T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số CC/2021/0000455 ngày 10/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Anh T còn phải nộp 300.000 đồng án phí.
- Quyền kháng cáo: Anh Trần Hữu T, chị Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng; ông Nguyễn Văn Q và Hoàng Thị X có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Việt Trung |
Bản án số 58/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 58/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Trần Hữu T xin ly hôn, tranh chấp nuôi con với chị Nguyễn Thị N
