Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/DS-ST

Ngày 18/8/2023

V/v yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do

người chết để lại.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Trâm Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Hồng Xứng
  2. Ông Đoàn Văn Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Quan Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lành - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 5 và 09 tháng 6 và ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2023/TLST- DS ngày 27 tháng 10 năm 2020 về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXX - ST ngày 17 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1970 (có mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1961 (có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bà N: ông Tô Văn D, sinh năm 1960

Địa chỉ thường trú: G N, phường A, thành phố R, Kiên Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 06/6/2023) (có mặt)

  1. Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1984 (có mặt)
  2. Bà Phạm Thị Thúy A, sinh năm 1985 (vắng)
  3. Ông Phạm Trung T1, sinh năm 1995 (vắng)

Cùng địa chỉ: ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Minh M, sinh năm 1991. (vắng)

Địa chỉ: ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

  1. Bà Phạm Thị Thế A1, sinh năm 1991 (có mặt)

Địa chỉ: số nhà C Hẻm L, Thôn M, L, Khu T, thành phố L, tỉnh Phúc Kiến.

Tạm trú: ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nguyên đơn ông Trần Văn H trình bày: Ông bán thiếu vật tư nông nghiệp cho ông Phạm Hùng D1 từ năm 2010 cho đến năm 2014, khi kết nợ thì ông D1 còn nợ số tiền 254.518.000 đồng, ngày 25/9/2015 ông D1 có ký xác nhận nợ với ông H số tiền trên. Nay ông H khởi kiện yêu cầu hàng thừa kế của ông D1 trả cho ông số nợ 254.518.000 đồng và lãi theo pháp luật.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh N trình bày: Bà không thống nhất số nợ ông H trình bày, bà không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của ông H. Bởi vì năm 2010 ông D1 nợ tiền vật tư nông nghiệp đã bán đất cho ông H trừ nợ rồi. Từ năm 2010 đến nay ông D1 không có mua vật tư nông nghiệp của ông H. Đối với biên nhận nợ ngày 25/9/2015 bà không thống nhất vì biên nhận này có bút tích sửa số năm mua vật tư, số năm hẹn trả và số năm làm biên nhận.

Bị đơn ông Phạm Ngọc T, bà Phạm Thị Thúy A, ông Phạm Trung T1 trình bày: Các ông bà thống nhất lời trình bày của bà Nguyễn Thị Thanh N, các ông bà không biết cha là ông D1 có nợ ông H, khi ông D1 mất ông H cũng không có thông báo nợ nần gì với ông bà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thế A1 trình bày: Bà là con trong gia đình, bà lấy chồng ở Trung Quốc nên việc khởi kiện ông H đối với gia đình bà, bà không biết, không có ý kiến hay yêu cầu gì.

Tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: Ông rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 174.518.000 đồng, ông yêu cầu hàng thừa kế của ông D1 trả số nợ gốc là 80.000.000 đồng.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thanh N là ông Tô Văn D trình bày: bà N thống nhất số nợ 80.000.000 đồng mà ông H khởi kiện, đồng ý việc ông H rút yêu cầu khởi kiện đối với số nợ 174.518.000 đồng.

Các ông bà Phạm Ngọc T, Phạm Thị Thế A1 trình bày:Thống nhất số nợ 80.000.000 đồng mà ông H khởi kiện, ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm:

Về việc chấp hành pháp luật: Từ khi thụ lý cho đến trước khi tuyên án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa các đương sự đã thỏa thuận thống nhất được số nợ là 80.000.000 đồng, thống nhất về chi phí giám định, chi phí ủy thác tư pháp và án phí. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Phạm Minh M xác nhận có quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi nên Tòa án đưa ông Phạm Minh M tham gia với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

- Bà Phạm Thị Thúy A, ông Phạm Trung T1, ông Phạm Minh M có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt.

[2] Về quan hệ pháp luật: căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hàng thừa kế của ông Phạm Hùng D1 trả số nợ mua bán vật tư nông nghiệp mà ông D1 còn nợ từ năm 2010 cho đến năm 2014 với số nợ 254.518.000 đồng. Chứng cứ nguyên đơn đưa ra là giấy nợ vật tư nông nghiệp ngày 25/9/2015. Phía bị đơn không đồng ý với giấy nợ này. Tại bản kết luận giám định số 752/KL-KTHS ngày 26/12/2019 của Phòng K Công an tỉnh K xác định chữ ký mang tên Phạm Hùng D1 trên mẫu cần giám định với các mẫu so sánh là do cùng một người ký ra. Tuy nhiên chữ số 2015 tại dòng chữ thứ 7 (từ trên xuống) trên mẫu cần giám định được sữa từ chữ số nguyên thủy là 2008, chữ số 6 trong dãy số “30/3/2016” tại dòng thứ 9 (từ trên xuống) trên mẫu cần giám định đã bị sửa chữa. Như vậy qua kết luận giám định nêu trên có căn cứ xác định “giấy nợ vật tư nông nghiệp ngày 25/9/2015” là do ông Phạm Hùng D1 ký, nhưng thời gian nợ và thời gian hẹn trả nợ có sửa chữa nên không thể xác định thời gian. Phía nguyên đơn cho rằng toàn bộ chữ viết và chữ số bao gồm cả các số bị sữa chữa là do ông D1 ghi và sửa. Phía bị đơn đề nghị nguyên đơn xuất trình bản gốc để giám định chữ số và chữ viết trong biên nhận này để xác định có phải do ông D1 viết và sửa như lời nguyên đơn trình bày tại phiên tòa hay không hay biên nhận này được sửa chữa từ các biên nhận nợ từ năm 2010 trở về trước (số nợ từ năm 2010 trở về trước đã được thanh toán bằng việc ông D1 bán đất cho ông H để cấn trừ nợ). Tuy nhiên, bản gốc biên nhận này nguyên đơn trình bày đã từng giao nộp để giám định chữ ký nhưng hiện nay bị thất lạc và không cung cấp được cho Tòa án.

Sau đó, ông H xuất trình 01 giấy nợ bản pho to ngày 25/9/2014 âm lịch thể hiện ông D1 còn nợ tiền vật tư nông nghiệp là 187.198.000 đồng và không cung cấp được bản chính để giám định chữ ký theo yêu cầu của bị đơn.

Như vậy, biên nhận nợ ngày 25/9/2025 và biên nhận nợ ngày 25/9/2014, hiện tại nguyên đơn không cung cấp được bản chính để trưng cầu giám định nên các bản pho to của biên nhận không đủ làm căn cứ chứng minh ông D1 nợ tiền của ông H.

Sau ngày 09/6/2023 ông H có xuất trình thêm 01 “biên bản đối chiếu công nợ tiền mua vật tư nông nghiệp và tiền mượn” ngày 30/4/2013, có chữ ký của ông Phạm Hùng D1 trong đó thể hiện ông Phạm Hùng D1 nợ vật tư nông nghiệp từ ngày 06/3/2013 đến ngày 26/6/2013 với số tiền 80.000.000 đồng, cam kết thanh toán nợ từ ngày 06/3/2013 đến hết ngày 26/6/2013 là 88.800.000 đồng. Tại bản kết luận giám định số 755/KL-KTHS ngày 02/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận chữ ký mang tên Phạm Hùng D1 dưới mục đại diện bên mua trên mẫu cần giám định với chữ ký Phạm Hùng D1 trên mẫu so sánh là do cùng một người ký ra. Như vậy, có đủ cơ sở xác định ông D1 có nợ tiền vật tư nông nghiệp của ông H 80.000.000 đồng tiền gốc và 8.800.000 đồng tiền lãi.

Tại phiên tòa hôm nay, ông H đồng ý rút lại yêu cầu khởi kiện đối với hàng thừa kế của ông D1 với số tiền 174.518.000 đồng, chỉ yêu cầu hàng thừa kế của ông D1 trả số nợ gốc 80.000.000 đồng. Bà N, ông T, bà Thế A1 thống nhất số nợ 80.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận hàng thừa kế của ông D1 phải có nghĩa vụ trả cho ông H số nợ còn thiếu là 80.000.000 đồng trong phạm vi di sản của ông D1 để lại.

Về chi phí giám định chữ ký: 5.040.000 đồng, bà N, ông T, bà Thế A1 đồng ý chịu số tiền này. Do ông H đã tạm ứng trước nên bà N, bà Thúy A, bà Thế A1, ông M, ông T1, ông T phải trả lại cho ông H số tiền 5.040.000 đồng trong phạm vi di sản thừa kế ông D1 để lại.

Về chi phí ủy thác là 1.700.000 đồng, ông H tự nguyện chịu và đã thực hiện xong.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: bà N, ông Phạm Trung T1, ông Phạm Ngọc T, bà Phạm Thị Thúy A, bà Phạm Thị Thế A1, ông Phạm Minh M chịu án phí 4.000.000 đồng trong phạm vi di sản của ông D1 để lại, ông H được hoàn trả tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 37, Điều 39, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 290, Điều 428, Điều 438 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 280, Điều 615 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ghi nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn ông Trần Văn H và hàng thừa kế của ông D1 như sau:

  1. Hàng thừa kế của ông Phạm Hùng D1 gồm có: bà Nguyễn Thị Thanh N, ông Phạm Trung T1, ông Phạm Ngọc T, bà Phạm Thị Thúy A, bà Phạm Thị Thế A1, ông Phạm Minh M trả số tiền nợ vật tư nông nghiệp 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) cho ông Trần Văn H trong phạm vi di sản thừa kế của ông Phạm Hùng D1 để lại.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 01/2020/QĐ-BPKCTT ngày 19/03/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “phong tỏa tài sản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước” theo quy định tại Điều 124 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H đối với số tiền 174.518.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất chậm trả.
  3. Về chi phí tố tụng:
  • + Về chi phí giám định chữ ký là 5.040.000 đồng, hàng thừa kế của ông D1 (bà N, bà Thúy A, bà Thế A1, ông M, ông T1, ông T ) chịu chi phí này, do ông H đã tạm ứng trước nên bà N, bà Thúy A, bà Thế A1, ông M, ông T1, ông T phải trả lại cho ông H số tiền 5.040.000 đồng trong phạm vi di sản thừa kế ông D1 để lại.
  • + Về chi phí ủy thác là 1.700.000 đồng, ông H tự nguyện chịu và đã thực hiện xong.
  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: hàng thừa kế của ông Phạm Hùng D1 gồm có: bà Nguyễn Thị Thanh N, ông Phạm Trung T1, ông Phạm Ngọc T, bà Phạm Thị Thúy A, bà Phạm Thị Thế A1, ông Phạm Minh M nộp án phí dân sự sơ thẩm là 4.000.000 đồng trong phạm vi di sản của ông D1 để lại.

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí 6.360.000 đồng cho ông Trần Văn H theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005467 ngày 31/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất.

  1. Quyền kháng cáo: ông H, bà N, ông T, bà Thế A1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T1, bà Thúy A, ông Minh M vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Kiên Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Trâm Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2023/DS-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại

  • Số bản án: 58/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông H bán vật tư nông nghiệp và cho ông D vay tiền, ông D chết, ông H khởi kiện hàng thừa kế để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger