Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BN

Bản án số: 58/2021/DS-PT
Ngày: 15/4/2021
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BN

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tính, Ông Lương Đức Năm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phúc - Thư ký TAND tỉnh BN.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh BN tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh BN xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 61/2021/TLPT- DS ngày 25/01/2021 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2020/DS-ST ngày 20/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố BN, tỉnh BN bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 47/2021/QĐ-PT, ngày 22/02/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh BN, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971 (có mặt); Địa chỉ: Số 1, khu 2, phường Đại P, thành phố BN, tỉnh BN.
  • Bị đơn: Anh Nguyễn Đình S, sinh năm 1978 (có mặt); Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1984 (Ủy quyền cho anh S). Cùng trú tại: khu 3, phường Đại P, thành phố BN, tỉnh BN.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. UBND thành phố BN. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Song H - Chủ tịch UBND. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H - Phó Chủ tịch (vắng mặt). Địa chỉ: Số 217 Ngô Gia T, phường Suối H, thành phố BN, tỉnh BN.
    2. Ông Nguyễn Đình P, sinh năm 1955 (vắng mặt). Địa chỉ: Khu 2, phường Đại P, thành phố BN, tỉnh BN.
    3. Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1968 (có mặt). Địa chỉ: Số 1 khu 2, phường Đại P, thành phố BN, tỉnh BN.
    4. Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1969 (vắng mặt). Địa chỉ: Khu Tiên x, phường Hạp L, thành phố BN, tỉnh BN.

Người có kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau: Nguyên đơn là Bà Nguyễn Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là Ông Nguyễn Văn Th trình bày: Năm 1992 địa phương chia ruộng cho gia đình thì vợ chồng ông, bà mỗi người được chia 01 (một) định suất ruộng, cháu Hoan được chia 0,5 định xuất ruộng. Còn cháu Hiền không được chia ruộng.

Khoảng năm 2007 Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của gia đình ông, bà, theo quy định của địa phương nếu mỗi hộ gia đình bị hồi 03 định suất ruộng thì được cấp 01 lô đất dân cư - dịch vụ. Gia đình ông, bà bị thu hồi 2,5 định suất ruộng, các hộ thừa thiếu định suất đất giãn dân thì được ghép với nhau cho đủ định suất đất giãn dân. Do gia đình ông, bà còn thiếu 0,5 định suất đất giãn dân, trong khi đó hộ gia đình anh trai ông Th là ông Nguyễn Bá Th còn thừa 0,5 định suất, nên vợ chồng ông, bà đã đề nghị gia đình ông Th nhượng lại 0,5 định suất đất giãn dân của gia đình ông Th cho vợ chồng ông, bà. Gia đình ông Th đã đồng ý nhượng lại cho vợ chồng ông, bà 0,5 định suất đất giãn dân. Sau đó vợ chồng ông, bà nhượng lại định suất đất dân cư dịch vụ cho Ông Nguyễn Thanh H với giá chuyển nhượng là 78.000.000 đồng vào ngày 31 tháng 8 năm 2007. Đến năm 2017 thì vợ chồng ông, bà được biết 0,5 định suất đất giãn dân của vợ chồng ông, bà nhận chuyển nhượng từ ông Th đã được ghép với định suất đất giãn dân của Anh Nguyễn Đình S, Chị Nguyễn Thị Y và địa phương đã cấp đất cho vợ chồng anh S, chị Yến.

Nay vợ chồng ông, bà yêu cầu vợ chồng Anh Nguyễn Đình S, Chị Nguyễn Thị Y phải trả lại cho vợ chồng bà 0,5 định suất đất giãn dân và yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 538848 đối với thửa đất số 180 tờ bản đồ số 32 có diện tích 80,9m2 do UBND thành phố BN cấp ngày 05/9/2013 đứng tên Anh Nguyễn Đình S, Chị Nguyễn Thị Y.

Bị đơn là Anh Nguyễn Đình S và Chị Nguyễn Thị Y trình bày: Ngày 26/11/2009 bố anh là Ông Nguyễn Đình P có mua bộ hồ sơ đất dân cư dịch vụ tại dự án khu nhà ở số 1 phường Đại P của Ông Nguyễn Thanh H. Trước đó ngày 31/8/2007 ông Hải mua bộ hồ sơ này của gia đình Ông Nguyễn Văn Th, Bà Nguyễn Thị H. Việc ghép định suất của gia đình anh đã được cấp có thẩm quyền chấp thuận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2013. Việc bà H đã bán tiêu chuẩn cấp đất dân cư dịch vụ của gia đình mình cho người khác, nay lại khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng anh phải trả lại là không có cơ sở.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thi H được nộp trong hạn luật định, có nội dung phù hợp là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Về tố tụng: Bản án sơ thẩm đã xem xét giải quyết đầy đủ các yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ là “Kiện đòi tài sản” là không chính xác, cần phải xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Xét nội dung kháng cáo bà H thì thấy: Năm 2007 Nhà nước thu hồi ruộng của các hộ dân trên địa bàn khu 2 phường Đại P. Gia đình Ông Nguyễn Văn Th, Bà Nguyễn Thị H bị thu hồi 2,5 định suất ruộng; Do còn thiếu 0,5 định suất, nên ông Th, bà H đã nhận chuyển nhượng lại 0,5 định suất của gia đình ông Nguyễn Bá Th. Khi có đủ định suất cấp đất theo tiêu chuẩn, ông Th, bà H không làm thủ tục xin cấp đất mà nhượng lại cho Ông Nguyễn Thanh H cả 3 định suất cấp đất của gia đình mình với giá 78.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Hải cũng không làm thủ tục cấp giấy chứng nhận mà nhượng lại 3 định suất cấp đất cho Ông Nguyễn Đình P với giá 105.000.000 đồng. Việc các bên thực hiện chuyển nhượng định suất thu hồi đất là hoàn toàn tự nguyện, đây là những giao dịch hợp pháp cần được tôn trọng bảo vệ. Do đó, việc bà H khởi kiện buộc anh S, chị Yến phải trả lại cho gia đình bà 0,5 định suất thu hồi đất là không có căn cứ chấp nhận. Việc bản án sơ thẩm quyết định bác yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 148; khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Sửa bản án sơ thẩm về phần án phí. Căn cứ Điều 121, 122 Bộ luật Dân sự năm 2005; Các Điều 99, 104, 105, 106 Luật đất đai năm 2013 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Xử:

  1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị H yêu cầu Anh Nguyễn Đình S và Chị Nguyễn Thị Y phải trả 0,5 định suất đất dân cư dịch vụ tương đương với 1/6 thửa đất ở có diện tích 80,9m2 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 538848, số vào sổ cấp GCN: CH04157 đối với thửa đất số 180 tờ bản đồ số 32 do UBND thành phố BN cấp ngày 05/9/2013 đứng tên Anh Nguyễn Đình S, Chị Nguyễn Thị Y.
  2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 8.500.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Xác nhận bà H đã nộp đủ.
  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả bà H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
  • Các đương sự;
  • VKSND tỉnh BN;
  • TAND thành phố BN;
  • Chi cục THADS thành phố BN;
  • Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa



Nguyễn Thanh Bình
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2021/DS-PT ngày 15/04/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh BN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 58/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh BN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971 và Bị đơn: Anh Nguyễn Đình S, sinh năm 1978
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger