|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 58/2020/HNGĐ-ST Ngày 26/8/2020 “V/v ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ong Thân Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Văn Bê - Cán bộ hưu.
- Ông Trần Thanh Bình - Cán bộ hưu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 26/8/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 52/2020/TLST-HNGĐ ngày 17/4/2020 về việc “ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/7/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2020/QĐST-HNGĐ ngày 03/8/2020, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Lê Thế D, sinh ngày 18/8/1984.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn BG, xã VT, huyện LN, tỉnh BG. Xin vắng mặt tại phiên tòa.
* Đại diện theo ủy quyền của anh Lê Thế D: Ông Lê Thế H, sinh năm: 1957. Địa chỉ: thôn BG, xã VT, huyện LN, tỉnh BG.
* Bị đơn: Chị Trần Thị Ng, sinh ngày 02/9/1983.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi xuất cảnh: thôn TS2, xã YL, huyện YD, tỉnh BG. Hiện đang lao động ở nước ngoài, không rõ địa chỉ. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là anh Lê Thế D trình bày:
- Về quan hệ vợ chồng: Anh kết hôn với chị Trần Thị Ng trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 26/02/2005 tại UBND xã VT, huyện LN, tỉnh BG. Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại gia đình bố mẹ đẻ của anh. Năm 2006 anh đi lao động tại Đồng Nai. Do sống xa nhau, mâu thuẫn phát sinh, tình cảm ngày càng xa cách. Anh được biết chị Ng đã đi lao động tại Đài Loan nhưng không rõ địa chỉ. Nay xác định tình cảm không còn, anh xin ly hôn.
- Về con chung: Không có con chung, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Tòa án đã tiến hành xác minh qua ông Trần Văn Ng (bố đẻ chị Ng). Ông Ng xác nhận chị Ng đang lao động tại Đài Loan, vẫn liên lạc về gia đình nhưng gia đình không biết địa chỉ cụ thể và từ chối cung cấp thông tin liên lạc cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Đây là vụ án “ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang do có đương sự ở nước ngoài.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Anh D có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị Ng vắng mặt không có lý do dù đã được niêm yết tống đạt hợp lệ. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh D và chị Ng là hợp pháp. Tuy nhiên, hai người đã ly thân từ năm 2006, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Tình trạng mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh D.
[4]. Về con chung và tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 28, 35, 37, 147, 227, 228, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Thế D được ly hôn chị Trần Thị Ng.
- Về án phí: Anh Lê Thế D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp.
- Về quyền kháng cáo: Chị Ng có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng; anh D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ong Thân Thắng |
Bản án số 58/2020/HNGĐ-ST ngày 26/08/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về ly hôn
- Số bản án: 58/2020/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2020
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn là anh Lê Thế D trình bày: Anh kết hôn với chị Trần Thị Ng trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 26/02/2005 tại UBND xã VT, huyện LN, tỉnh BG. Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại gia đình bố mẹ đẻ của anh. Năm 2006 do điều kiện kinh tế gia đình nên anh đi lao động làm ăn tại Đồng Nai cho đến nay. Anh đi được khoảng một năm thì vợ chồng có sự mâu thuẫn do sống xa nhau, tình cảm vợ chồng không được gắn bó, chị Ng có biểu hiện quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Do không có sự thông cảm, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên tình cảm ngày càng xa cách. Khi đi miền Nam làm ăn anh đã xin phép và đưa chị Ng về ở cùng với gia đình bố đẻ là ông Trần Văn Ng ở thôn TS2, xã YL, huyện YD, tỉnh BG. Sau này anh được biết chị Ng cũng đã đi lao động xuất khẩu tại nước ngoài Đài Loan nhưng anh không biết chính xác địa chỉ. Anh đã làm đơn xin ly hôn chị Ng từ năm 2011 nhưng không giải quyết được do không có địa chỉ. Anh biết chị Ng vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình nên có hỏi về thông tin địa chỉ thì gia đình giấu, không cung cấp còn chửi đuổi anh. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh xin được ly hôn chị Trần Thị Ng.
