Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 57A/2023/DS-PT

Ngày: 15 - 5 - 2023

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Quang Trung

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Phấn

Bà Nguyễn Thị Hải Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 15 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2023/TLPT-DS ngày 09 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp đất đai”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 56/2022/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 10/2023/QĐPT-DS ngày 21 tháng 04 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đặng Đình Đ, sinh năm 1939 và bà Trần Thị H, sinh năm 1945; Địa chỉ: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

Đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Đình Đ: Bà Trần Thị H, sinh năm 1945; Địa chỉ: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt

Bị đơn: Ông Trần Hưng Đ1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; Địa chỉ: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

Đại diện theo ủy quyền của ông Trần Hưng Đ1: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; Địa chỉ: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt

1

Người kháng cáo: Ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T – bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án cũng như trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Ngày 06 tháng 01 năm 1996 ông Đặng Đình Đ, bà Trần Thị H được UBND huyện T, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tổng diện tích theo số liệu cũ là 3.020m2 đất tại thửa số 24, tờ bản đồ số 14 (nay là thửa đất 210, tờ bản đồ số 29) tại thôn M (nay là thôn B) xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vào khoảng tháng 12 năm 2021 ông Trần Hưng Đ2, bà Nguyễn Thị T đã tự ý xây dựng rào lấn chiếm diện tích 18,8m2 về phía Đông trên thửa 24, tờ bản đồ số 14 (nay là thửa đất 210, tờ bản đồ số 29) tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An của gia đình ông Đ, bà H. Sau khi ông Đ1, bà T lấn chiếm đất của ông Đ, bà H thì hai bên xảy ra tranh chấp đất đai và đã được UBND xã T, huyện T hòa giải nhưng không thành.

Nay ông Đặng Đình Đ, bà Trần Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương giải quyết buộc ông Trần Hưng Đ1 và bà Nguyễn Thị T phải tháo dỡ, di dời các công trình xây dựng gồm nhà tắm, nhà vệ sinh, mái tôn, bờ rào xây dựng trên phần đất tranh chấp để trả lại phần đất đã lấn chiếm có diện tích 18,8m2 về phía Đông tại thửa đất số 24, tờ bản đồ số 14 (nay là thửa đất 210, tờ bản đồ số 29) tại thôn2, xã T, huyện T tỉnh Nghệ An cho vợ chồng ông Đặng Đình Đ, bà Trần Thị H. Ông Đặng Đình Đ và bà Trần Thị H không đồng ý nhận các tài sản xây dựng trên phần đất lấn chiếm và không đồng ý nhận tiền án phí dân sự phúc thẩm trên để sử dụng lâu dài.

* Ý kiến bị đơn bà Nguyễn Thị T, ông Trần Hưng Đ1: Vào tháng 7 năm 2020 ông bà đã đề nghị nâng vườn và rào thép B40 theo mốc giới bờ cũ giữa gia đình ông, bà và gia đình ông Đ1, bà H. Sự việc trên dẫn đến xảy ra tranh chấp giữa hai gia đình, ông Đ, bà H viết đơn khởi kiện nội dung là gia đình ông Đ1, bà T thuê máy múc về múc đất của gia đình ông Đ, bà H. Sự việc đã được thôn, xã giải quyết đo đạc và lập biên bản ngay tại nhà ông Đ, bà H và hai gia đình đã thống nhất mốc giới và có sự chứng kiến của chính quyền địa phương. Cuối năm 2021 gia đình bà xây bờ rào, sau khi xây xong gia đình ông Đ, bà H cũng không có ý kiến gì, bờ rào gia đình bà T xây theo mốc giới được cán bộ địa chính xã xác định mốc giới cho hai gia đình. Nay ông Đ, bà H khởi kiện yêu cầu ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T trả lại diện tích 18,8m2 đất lấn chiếm thuộc thửa đất số 210, tờ bản đồ số 29, địa chỉ thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cho ông Đặng Đình Đ và bà Trần Thị H thì ông Đ1, bà T không nhất trí với lý do gia đình ông, bà xây dựng bờ rào theo mốc giới đã thỏa thuận giữa hai gia đình, không lấn sang phần đất của ông Đ, bà H.

2

Các tài sản gồm nhà tắm, nhà vệ sinh, mái tôn, bờ rào xây dựng trên phần đất tranh chấp là thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị Tuyết.

Tại Bản án số 56/2022/DS-ST ngày 07/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; Điều 35, khoản 1 Điều 147, Điều 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 100, 202, Điều 203 Luật Đất đai; khoản 2 Điều 26, điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Đình Đ, bà Trần Thị H
  2. Buộc ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T phải tháo dỡ, di dời các công trình xây dựng gồm nhà tắm, nhà vệ sinh, mái tôn, bờ rào xây dựng trên phần đất tranh chấp để trả lại phần đất đã lấn chiếm có diện tích 18,8m2.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/9/2022, ông Trần Hưng Đ1 và bà Nguyễn Thị T làm đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2022/DS-ST ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương với lý do:

Gia đình ông bà không lấn chiếm đất của gia đình bà H, ông Đ. Đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Tại phiên tòa, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ án.

Việc chấp hành pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến thời điểm xét xử tại phiên tòa hôm nay các đương sự thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T lấn chiếm diện tích đất 18,8m2 của ông Đặng Đình Đ, bà Trần Thị H là có căn cứ. Tuy nhiên, căn cứ biên bản lần việc ngày 07/10/2019 tại xóm M, xã T, huyện T thể hiện hai bên đã thống nhất mốc giới bằng cọc bê tông, phía giáp ranh vườn anh H1 đóng bằng cọc tre, hai bên nhất trí lấy 2 mốc trên làm mốc giới sử dụng lâu dài,

3

UBND xã T, huyện T giao hai hộ gia đình căn cứ mốc trên để sử dụng lâu dài, nếu bên sử dụng sai hoặc xê dịch, tự ý đào nhổ cọc thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Theo trình bày của ông Đ1, sau khi địa chính xã cắm mốc giới thì năm 2021 gia đình ông Đ1 tiến hành xây bờ rào theo mốc đã được cắm tại biên bản làm việc ngày 07/10/2019. Quá trình gia đình ông Đ1 xây bờ rào thì gia đình ông Đ không có ý kiến phản đối gì, cũng không có tranh chấp hay báo cáo chính quyền địa phương để yêu cầu cầu ông Đ1 dừng việc xây dựng. Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Đ1, bà T phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên thửa đất làm mất giá trị sử dụng các tài sản trên đất nên để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự, cần buộc bị đơn ông Đ1, bà H trả bằng tiền đối với diện tích đất đã lấn chiếm 18,8m2 tại thửa đất số 24, Tờ bản đồ số 14 (nay là thửa đất 210, tờ bản đồ số 29) tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Như vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và các đương sự có mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của ông Trần Hưng Đ1 và bà Nguyễn Thị T làm trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên hợp lệ được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Trần Hưng Đ1 và bà Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ông Trần Hưng Đ1 và bà Nguyễn Thị T cho rằng ông bà không lấn chiếm đất của ông Đ, bà H thấy rằng: Theo các tài liệu Tòa án thu thập tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thể hiện ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T được cấp 861,4m2 đất (trong đó đất ở 300m2, đất vườn 561,4m2) tại thửa đất số 209, tờ bản đồ số 29 tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 882013 do UBND huyện T cấp ngày 16/5/2016 mang tên chủ sử dụng đất là ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị Tuyết. Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T là hợp pháp, công khai và được các hộ liền kề ký giáp ranh, trong đó có hộ ông Đặng Đình Đ.

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thửa đất số 209, tờ bản đồ số 29 tại thôn B, xã T, huyện T được cấp cho ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T theo hiện trạng sử dụng có diện tích là 880,2m2, tăng so với diện tích được ghi trong Giấy chứng

4

nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đ1, bà T là 18,8m2. Kết quả đo, vẽ hiện trạng thể hiện ông Đ1, bà T đã xây dựng nhà tắm, nhà vệ sinh, mái tôn, bờ rào lấn chiếm sang thửa đất số 210, tờ bản đồ số 29 là 18,8m2.

Nguyên đơn ông Đặng Đình Đ, bà Trần Thị H có giấy tờ hợp pháp về thửa đất là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 06/01/1996 mang tên chủ sử dụng đất là ông Đặng Đình Đ, các tài liệu, chứng cứ mà ông Đặng Đình Đ, bà Trần Thị H nộp cho Tòa án là phù hợp với kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, phù hợp với hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ, bà H được Tòa án thu thập tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Nghệ An. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T đã xây dựng nhà tắm, nhà vệ sinh, mái tôn, bờ rào lấn chiếm sang thửa đất số 24, tờ bản đồ 14 (nay là thửa đất số 210, tờ bản đồ số 29) tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An về phía Tây được cấp cho ông Đặng Đình Đ, bà Trần Thị H là 18,8m2.

Như vậy ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T cho rằng không lấn chiếm đất của gia đình ông Đặng Đình ĐTrần Thị H là không có căn cứ. Từ những căn cứ trên thấy rằng bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Đặng Đình Đ là có căn cứ. Tuy nhiên, căn cứ biên bản lần việc ngày 07/10/2019 tại xóm M, xã T, huyện T thể hiện hai bên đã thống nhất mốc giới bằng cọc bê tông, phía giáp ranh vườn anh H1 đóng bằng cọc tre, hai bên nhất trí lấy 2 mốc trên làm mốc giới sử dụng lâu dài, UBND xã T, huyện T giao hai hộ gia đình căn cứ mốc trên để sử dụng lâu dài, nếu bên sử dụng sai hoặc xê dịch, tự ý đào nhổ cọc thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Theo trình bày của ông Đ1, sau khi địa chính xã cắm mốc giới thì năm 2021 gia đình ông Đ1 tiến hành xây bờ rào theo mốc đã được cắm tại biên bản làm việc ngày 07/10/2019, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn bà Trần Thị H và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đặng Đình Đ3 là bà Trần Thị H thừa nhận khi gia đình ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T xây dựng bờ rào và công trình phụ trên phần diện tích đất tranh chấp thì ông bà không có ý kiến gì và cũng không báo cáo với cơ quan có thẩm quyền để giải, giải quyết sự việc hay đình chỉ việc xây dựng, tại hồ sơ vụ án cũng không thể hiện có việc gia đình ông Đặng Đình Đ, bà Trần Thị H có yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc gia đình ông Trần Hưng Đ4, bà Nguyễn Thị T xây dựng các công trình trên diện tích đất tranh chấp. Một thời gian sau khi công trình đã hoàn tất thì ông Đặng Đình Đ, bà Trần Thị H mới làm đơn gửi lên Ủy ban nhân dân xã T, huyện T. Như vậy, cấp sơ thẩm buộc ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên diện tích đất tranh chấp làm mất giá trị sử dụng của công trình, làm ảnh

5

hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bị đơn, Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy có căn cứ để chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Hưng Đ1 và bà Nguyễn Thị T, cần sửa bản án sơ thẩm; giao phần diện tích tranh chấp 18,8m2 cho gia đình ông Trần Hưng Đ1 và bà Nguyễn Thị T được quyền quản lý, sử dụng và buộc ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T phải trả giá trị quyền sử dụng đất bằng tiền cho ông Đặng Đình Đ, bà Trần Thị H là hợp tình, hợp lý. Phần diện tích đất tranh chấp là đất vườn có giá theo Hội đồng định giá huyện T xác định theo bảng giá Nhà nước là 36.000đ/m2; đất ở theo bảng giá Nhà nước là 170.000đ/m2, tại phiên tòa các đương sự thống nhất với mức giá trên và không yêu cầu định giá lại. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị Tuyết Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng giá đất ở để buộc bị đơn ông Đặng Đình Đ và bà Trần Thị H phải trả lại giá trị bằng tiền tương ứng với phần diện tích được giao sử dụng là 18,8m2 x 170.000đ/1m2 = 3.196.000đồng cho nguyên đơn ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T là phù hợp.

[3] Về án phí: Kháng cáo của ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T được chấp nhận một phần nên ông Đ1, bà T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Hưng Đ1 và bà Nguyễn Thị Tuyết sửa bản án sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; Điều 35, khoản 1 Điều 147, Điều 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 100, 202, Điều 203 Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:

  1. Giao cho ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng phần diện tích đất là 18,8m2 về phía Tây tại thửa đất số 24, tờ bản đồ số 14 (nay là thửa số 210, tờ bản đồ số 29); địa chỉ: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Chi tiết phần đất mà ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng có tại sơ đồ kèm

theo Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2022/DS-ST ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An).

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  1. Buộc ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T phải trả lại giá trị quyền sử dụng đất bằng tiền là 18,8m2 x 170.000đ/1m2 = 3.196.000đ (ba triệu một trăm chín mươi sáu nghìn đồng) cho ông Đặng Đình Đ, bà Trần Thị H.
  2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho ông Trần Hưng Đ1, bà Nguyễn Thị T tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009268 ngày 28/11/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương.
  3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Thanh Chương;
  • - Chi Cục THADS huyện Thanh Chương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Trung

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57A/2023/DS-PT ngày 15/05/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 57A/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thụ lý số: 10/2023/TLPT-DS ngày 09 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp đất đai”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger