Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 578/2024/HS-ST

Ngày: 29/10/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/Ông Trần Hữu Hậu - Trưởng phòng Y tế Biên Hòa.

2/Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Hiệu trưởng trường tiểu học Hóa An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Hạnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 579/2024/TLST- HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số:580/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Gia H;Tên gọi khác: Tí; Giới tính: Nam; Sinh ngày 06/6/2004, tại Bà Rịa - Vũng Tàu.; Nơi cư trú: 2, tổ B, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Họ tên cha: Phạm H1 (không rõ năm sinh); Họ tên mẹ: Lê Thị Bích H2 - Sinh năm 1976 (còn sống); Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ ngày 06/7/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B.

Bị cáo có mặt.

2. Họ và tên: Hứa Thanh H3; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 23/10/2005, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: 202/4/24, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Họ tên cha: Không rõ; Họ tên mẹ: Hứa Nhị Ngọc H4 - Sinh năm 1980; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ ngày 06/7/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B.

Bị cáo có mặt.

3.Họ và tên: Nguyễn Công P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 24/10/2004, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: 8, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Thiên Chúa; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Họ tên cha: Nguyễn Công P1 - Sinh năm 1975; Họ tên mẹ: Trang Thị Hồng A - Sinh năm 1981; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ ngày 06/7/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B.

Bị cáo có mặt.

4. Họ và tên: Nguyễn Thành Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 28/11/2007, tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 8, khu phố E, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Họ tên cha: Nguyễn Ngọc T; Sinh năm 1976; Họ tên mẹ: Phạm Vũ Tố Q; Sinh năm 1978; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt)

- Người giám hộ cho bị cáo Nguyễn Thành Đ: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1976 (Vắng mặt) và bà Phạm Vũ Tố Q, sinh năm 1978 (Có mặt)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Đ: Ông Nguyễn Doãn N - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Phạm Gia H, Hứa Thanh H3, Nguyễn Công P và Nguyễn Thành Đ là bạn quen biết với nhau, P làm chung buôn bán cà phê bằng xe đẩy với H.

Do có mâu thuẫn giữa H với Huỳnh Minh H5 (sinh năm 2005, thường trú tại tổ E, ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai) về việc H mượn loa kẹo kéo để sử dụng và bị hỏng nên vào ngày 05/7/2024, Minh H5 và H nhắn tin chửi nhau qua ứng dụng Messenger trên mạng xã hội Facebook và hẹn nhau tại khu vực cầu H thuộc phường H, thành phố B để đánh nhau. Sau đó, H rủ Thanh H3, P và Đ cùng đi đến điểm hẹn nêu trên để đánh nhau với Minh H5, thì Thanh H3, P và Đ đồng ý.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H chuẩn bị 01 con dao (dạng kiếm nhật) dài khoảng 80cm, 01 dao tự chế dài khoảng 60cm bản rộng 05cm, Thanh Hiếu chuẩn bị 01 sợi dây dù dài khoảng 02m có gắn ổ khoá bằng kim loại rồi H điều khiển xe mô tô biển số 60F3-622.00 chở Thanh H3, P điều khiển xe mô tô biển số 60X8-4182 chở Đ (không mang theo hung khí) đi đến địa điểm nêu trên.

Đến khoảng 01 giờ ngày 06/7/2024, khi H, Thanh H3, P và Đ mang theo hung khí nêu trên đến khu vực vòng xoay H thuộc tổ G, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đứng chờ Minh H5 để đánh nhau thì bị Tổ tuần tra 161 Công an tỉnh Đ kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Gia H, Hứa Thanh H3, Nguyễn Công P và Nguyễn Thành Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) con dao tự chế dài 80cm (dạng kiếm nhật) có lưỡi bằng kim loại dài khoảng 60 cm, cán màu đen dài 20cm; 01 (một) dao tự chế dài 60cm, lưỡi bằng kim loại rộng 05cm, cán bằng gỗ có quấn vải màu xanh; 01 (một) đoạn dây dù dài 02 mét có gắn 01 ổ khóa bằng kim loại của Phạm Gia H và Hứa Thanh H3 chuẩn bị phạm tội.
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda màu đỏ, biển số 60X8-4182, số khung: 037065, số máy: 0553944 thu giữ của Nguyễn Công P. Qua xác minh: xe mô tô 60X8-4182 do bà Trang Thị Hồng A (mẹ của P- sinh năm 1981, thường trú tại 85/4, tổ B, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai sở hữu. Bà A cho P mượn xe để làm phương tiện đi lại, không biết P sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bà A quản lý.
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen biển số 60F3-622.00, số khung: GLHJA3912LG2541, số máy: JA39E1500385 thu giữ của Phạm Gia H.

Qua xác minh: Xe 60F3-622.00 do bà Lê Thị Bích H2 (mẹ của H- sinh năm 1976, thường trú tại số B, tổ B, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) sở hữu. Bà H2 cho H mượn xe để làm phương tiện đi lại, không biết H sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bà H2 quản lý.

* Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ và giao trả tài sản do không liên quan đến hành vi phạm tội gồm:

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng của Phạm Gia H.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu xanh của Nguyễn Công P.
  • - 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu xanh của Nguyễn Thành Đ.

2. Các vấn đề khác:

Quá trình điều tra Huỳnh Minh H5 khai: H5 nhắn tin hẹn địa điểm để đánh nhau với Phạm Gia H nhưng H5 không đến điểm hẹn, mục đích là để chọc tức H chứ không có ý định đi đánh nhau.

3. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 567/CT-VKSBH-HS ngày 27/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Phạm Gia H, Hứa Thanh H3, Nguyễn Công P và Nguyễn Thành Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

  • - Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
  • - Xử phạt bị cáo Phạm Gia H từ: 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Hứa Thanh H3: 04 (bốn) tháng tù đến 06 (sáu) tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Công P: 04 (bốn) tháng tù đến 06 (sáu) tháng tù.
  • Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ: 04 (bốn) tháng đến 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

Các bị cáo có mặt không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

4. Ý kiến của người tham gia tố tụng:

- Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Thành Đ- ông Nguyễn Doãn N trình bày: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà truy tố bị cáo các bị cáo về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên người bào chữa không tranh luận gì về tội danh. Khi lượng hình đối với bị cáo, xét thấy quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên khả năng hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo tham gia đi đánh nhau nhưng không chuẩn bị công cụ phương tiện gì. Từ những tình tiết giảm nhẹ quy định điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự kính mong Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức án thấp nhất của Viện kiểm sát bị cáo được cải tạo không giam giữ thể hiện khoan hồng của pháp luật.

5. Lời nói sau cùng: Các bị cáo H, H3, Đ xin giảm nhẹ hình phạt; Bị cáo P không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Các bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội:

Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai nhân chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác

có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 01 giờ ngày 06/7/2024, tại khu vực vòng xoay H thuộc tổ G, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, do có mâu thuẫn chửi nhau qua ứng dụng Messenger trên mạng xã hội Facebook, Huỳnh Minh H5 và Phạm Gia H nhắn tin hẹn địa điểm đánh nhau nên H rủ Hứa Thanh H3, Nguyễn Công P và Nguyễn Thành Đ (sinh ngày 28/11/2007) chuẩn bị hung khí gồm: 01 con dao dạng kiếm nhật dài khoảng 80cm, 01 con dao tự chế dài khoảng 60cm, 01 sợi dây dù có móc ổ khoá bằng kim loại dài khoảng 02 m đi trên đường N để đến điểm hẹn đánh nhau với Minh H5 thì bị Tổ tuần tra 161 Công an tỉnh Đ kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

- Về tội danh:

Từ căn cứ trên, xác định các bị cáo Phạm Gia H, Hứa Thanh H3, Nguyễn Công P và Nguyễn Thành Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản cáo trạng số 567/CT-VKSBH ngày 27/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo Phạm Gia H, Hứa Thanh H3, Nguyễn Công P và Nguyễn Thành Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi:

Hành vi phạm tội của các bị cáo tuy chưa gây hậu quả nhưng đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì mâu thuẩn nhỏ trong cuộc sống mà bị cáo H đã rủ H3, P, Đ chuẩn bị công cụ là dao (dạng kiếm nhật), 01 dao tự chế, sợi dây dù có gắn ở khóa bằng để đi giải quyết mâu thuẫn, hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm nếu không được ngăn chặn kịp thời thì hậu quả xảy ra là rất lớn. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, các bị cáo phải chịu mức án nghiêm. Đối với bị cáo Đ xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, hiện nay đang là sinh viên, bị cáo đồng ý tham gia nhưng không chuẩn bị công cụ phương tiện gì. Vì vậy, việc không cách ly bị cáo Đ ra khỏi đời sống xã hội một thời gian cũng không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm tại địa phương, nên quyết định áp dụng loại hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú.

- Về tính chất đồng phạm, vai trò của từng bị cáo:

Trong vụ án này các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, với tính chất đồng phạm giản đơn, cụ thể: Phạm Gia H là người chủ mưu, rủ rê đồng bọn, chuẩn bị hung khí, tích cực chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích. Bị cáo Hứa Thanh H3 là người chuẩn bị hung khí, tích cực chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích. Bị cáo Nguyễn Công P và bị cáo Nguyễn Thành Đ là người chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích. Do đó, cần có mức hình phạt đối với H cao hơn các bị cáo khác, mức án bị cáo H3 cao hơn bị cáo P và bị cáo Đ. Bị cáo Đ phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng các quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự để xem xét khi lượng hình.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3] Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) con dao tự chế dài 80cm (dạng kiếm nhật) có lưỡi bằng kim loại dài khoảng 60 cm, cán màu đen dài 20cm; 01 (một) dao tự chế dài 60cm, lưỡi bằng kim loại rộng 05 cm, cán bằng gỗ có quấn vải màu xanh; 01 (một) đoạn dây dù dài 02m có gắn 01 ổ khóa bằng kim loại của Phạm Gia H và Hứa Thanh H3 dùng vào việc phạm tội.

[4] Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:

- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố các bị cáo phù hợp quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Mức án của Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

- Đối với phần trình bày của người bào chữa tại phiên tòa có phần phù hợp nên được chấp nhận một phần;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Điều luật áp dụng và xử phạt:

Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, và Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Tuyên bố các bị cáo Phạm Gia H, Hứa Thanh H3, Nguyễn Công P phạm tội “Cố ý gây thương tích” và xử phạt:

  • - Bị cáo Phạm Gia H: 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/7/2024.
  • - Bị cáo Hứa Thanh H3: 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/7/2024.
  • - Bị cáo Nguyễn Công P: 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/7/2024.

- Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Nghị quyết 02/2018/NĐ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ: 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 (một) năm.

Giao bị cáo Nguyễn Thành Đ cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Thành Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.

2. Xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao tự chế dài 80cm (dạng kiếm nhật) có lưỡi bằng kim loại dài khoảng 60 cm, cán màu đen dài 20cm; 01 (một) dao tự chế dài 60cm, lưỡi bằng kim loại rộng 05 cm, cán bằng gỗ có quấn vải màu xanh; 01 (một) đoạn dây dù dài 02m có gắn 01 ổ khóa bằng kim loại dùng vào việc phạm tội.

(Theo biên bản chuyển vật chứng, tài sản ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa)

3.Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc các bị cáo Phạm Gia H, Hứa Thanh H3, Nguyễn Công P và Nguyễn Thành Đ bị cáo mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

4.Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

Các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo Đ được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự TP. Biên Hòa
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 578/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 578/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Gia H cùng đồng phạm cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger