Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 578/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03-6-2024

V/v "Ly hôn”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Tốt
  2. Ông Nguyễn Văn Quản

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Bình, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa: Bà Lường Thị Lan, Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1271/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 496/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thanh H, sinh năm 1981 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
    Địa chỉ: E, tổ E, Khu phố C, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bị đơn: Ông Võ Mạnh H1, sinh năm 1985 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
    Địa chỉ: M, Khu dân cư T, tổ A, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 07 tháng 8 năm 2023, bản tự khai và tại các biên bản của Tòa án, nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh H trình bày: Bà và ông Võ Mạnh H1 tự nguyện tìm hiểu quen nhau rồi tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn vào năm 2022, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 73/2022, ngày 04/11/2022 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Từ khi bắt đầu chung sống, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung. Ông H1 thường xuyên uống rượu say và đánh đập bà, nhưng bà vẫn cố gắng níu kéo để vợ chồng hòa hợp, gia đình êm ấm. Đến ngày 07/7/2023, bà phát hiện ông H1 sử dụng trái phép chất ma túy. Sau đó, ông H1 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc cho đến nay. Nay nhận thấy không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng với ông H1 được nữa, nên bà H yêu cầu ly hôn với ông H1.

Về con chung: Bà H xác định bà và ông H1 không có con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu toà giải quyết.

Bị đơn ông Võ Mạnh H1 đồng ý ly hôn với bà H. Ông H1 xác định ông và bà H không có con chung, tài sản chung và nghĩa vụ chung. Ông đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vụ án vắng mặt ông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Hồ Thị Thanh H và ông Võ Mạnh H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tòa xét xử vụ án vắng mặt bà H, ông H1.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Hồ Thị Thanh H và ông Võ Mạnh H1 chung sống với nhau từ năm 2022, đã đăng ký kết hôn vào năm 2022, vì vậy căn cứ vào các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa cần xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Võ Mạnh H1 có địa chỉ tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Thanh H và ông Võ Mạnh H1 tự nguyện tìm hiểu quen nhau rồi tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn vào năm 2022, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 73/2022, ngày 04/11/2022 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Từ khi bắt đầu chung sống, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung. Ông H1 thường xuyên uống rượu say và đánh đập bà, nhưng bà vẫn cố gắng níu kéo để vợ chồng hòa hợp, gia đình êm ấm. Đến ngày 07/7/2023, bà phát hiện ông H1 sử dụng trái phép chất ma túy. Sau đó, ông H1 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc cho đến nay. Nay nhận thấy không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng với ông H1 được nữa, nên bà H yêu cầu ly hôn với ông H1.

Căn cứ trả lời Công văn số 866/TAQ12 ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 12, Ủy ban nhân dân phường T, Quận A có cung cấp nội dung: “ ………Ủy ban nhân dân phường T, Quận A không nắm rõ vấn đề mâu thuẫn giữa ông Võ Mạnh H1 và bà Hồ Thị Thanh H”. Theo trả lời Công văn 205/TAQ12 ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân Quận 12, Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 ghi nhận nội dung: “ ...Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 đang quản lý người cai nghiện Võ Mạnh H1, sinh năm 1985, hộ khẩu thường trú: K, xã B, thành phố V, tỉnh Nghệ An, chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 từ ngày 08/7/2023 theo Quyết định số 423/QĐ-TA ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, thời gian cai nghiện là 21 tháng; ngày chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 08/4/2025. Hiện nay, Võ Mạnh H1 đang sinh hoạt tại Khu quản lý-Giáo dục học viên số 1”. Tại bản tự khai gửi cho Toà án, ông Võ Mạnh H1 cũng xác định đồng ý ly hôn với bà H. Ông H1 xác định ông và bà H không có con chung, tài sản chung và nghĩa vụ chung. Ông đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vụ án vắng mặt ông.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông H1 đã sử dụng ma túy và phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 từ ngày 08/7/2023 theo Quyết định số 423/QĐ-TA ngày 28/9/2023 của Tòa án nhận dân Quận A, thời gian cai nghiện là 21 tháng; ngày chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 08/4/2025. Tình tiết này kết hợp với các tình tiết đã xác minh như đã nêu trên chứng tỏ ông H1 không có trách nhiệm, không quan tâm gì đến hạnh phúc gia đình. Ông H1 cũng khẳng định đồng ý ly hôn với bà H. Như vậy, chính ông H1 cũng không muốn duy trì quan hệ hôn nhân với bà H. Có thể thấy, quan hệ tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thanh H, tuyên cho bà H được ly hôn với ông Võ Mạnh H1.

Về con chung: Bà H và ông H1 xác định hai bên không có con chung, nên không xét

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà H và ông H1 xác định không có, không yêu cầu toà giải quyết, nên không xét.

[4] Bà Hồ Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn.

Ông Võ Mạnh H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 266, 267 và 275 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 8, 9, 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7a,7b, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự,

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thanh H, tuyên cho bà Hồ Thị Thanh H được ly hôn với ông Võ Mạnh H1.

2. Về con chung: Bà Hồ Thị Thanh H và ông Võ Mạnh H1 xác định hai bên không có con chung, nên không xét.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà H và ông H1 xác định không có, không yêu cầu toà giải quyết, nên không xét.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Hồ Thị Thanh H phải nộp, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà H đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0031320 ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12. Ông Võ Mạnh H1 không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 73/2022, ngày 04/11/2022, do Ủy ban nhân dân phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An cấp cho bà Hồ Thị Thanh H và ông Võ Mạnh H1 không còn hiệu lực.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kề từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Q.12;
  • - Chi cục THADS Q.12;
  • - UBND phường Bến Thủy, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 578/2024/HNGĐ-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 578/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger