Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 577/2023/DS-PT

Ngày: 28/11/2023

V/v: Tranh chấp chia thừa kế tài sản
và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Điều Văn Hằng;

Các thẩm phán: 1. Ông Mai Anh Tài;

2. Ông Nguyễn Phan Nam.

- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Hương Thùy – Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội Nguyễn Quang Hưng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 342/2023/TLPT-DS ngày 31 tháng 8 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2023/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13140/2023/QĐ-PT, ngày 13 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1979; Địa chỉ: Xóm G, thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Bà Trần Kim T1, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số C đường N, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. 3.1.Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V; Địa chỉ: Đường H, phường Đ, V, Vĩnh Phúc. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Kim T2- Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Kim C - Phó Giám đốc Văn phòng Đ1 chi nhánh V; có đơn xin xét xử vắng mặt.
    2. 3.2. Ông Đỗ Như H, sinh năm 1965; Địa chỉ: Số C đường N, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
    3. 3.3. Ông Trần Ngọc L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Khu tập thể D, Học viện K, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
    4. 3.4. Ông Trần Ngọc C1, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số A, đường N, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
    5. 3.5. Ông Trần Ngọc N, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số C xóm B, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
    6. 3.6. Bà Trần Thị D, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số B, Đại lộ H, tổ A, khu G, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; vắng mặt.
    7. 3.7. Bà Trần Thị T3, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số D+42 đường L, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
    8. 3.8. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1950; Địa chỉ: Xóm G, thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
    9. 3.9. Anh Trần Ngọc T4, sinh năm 1972; Địa chỉ: Xóm G, thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
    10. 3.10. Anh Trần Ngọc T5, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số A, ngõ F, đường L, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
    11. 3.11. Anh Trần Ngọc T6, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số F, đường N, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
    12. 3.12. Anh Trần Ngọc T7, sinh năm 1981; Địa chỉ: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; vắng mặt.
    13. 3.13. Anh Trần Ngọc T8, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số E, thôn S, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
    14. 3.14. Chị Trần Thị T9, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số D, đường L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
    15. 3.15. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1956; Địa chỉ: Số C đường M, khu H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
    16. 3.16. Chị Trần Thu H2, sinh năm 1978; Địa chỉ: Trường Cao đẳng C3, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
    17. 3.17. Chị Trần Thu H3, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số C đường M, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
    18. 3.18. Chị Trần Thu H4, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số A, gốc V, khu chùa H9, xã Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
    19. 3.19. Chị Trần Thị Huyền T10, sinh năm 1987; Địa chỉ: Tầng A, chung cư V, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
    20. 3.20. Chị Trần Thị H5, sinh năm 1997;
    21. 3.21. Chị Trần Thị M, sinh năm 2004;

    Người đại diện theo pháp luật của chị Trần Thị M là bà Nguyễn Thị H6, sinh năm 1978; Đều có địa chỉ: Ngõ B, thôn Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.

  4. Người kháng cáo: Nguyên đơn Trần Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 9 năm 2020, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Nguyễn Thị Đ thống nhất trình bày:

Bố mẹ chồng bà là cụ Trần Ngọc B và cụ Lê Thị T11 có 08 người con gồm: Ông Trần Ngọc D1 (chết năm 2006); ông Trần Ngọc C2 (chết năm 2013), bà Trần Thị D, ông Trần Ngọc N, bà Trần Thị T3, bà Trần Kim T1, ông Trần Ngọc L và ông Trần Ngọc C1. Bà là vợ ông D1, bà và ông D1 có 08 người con là Trần Thị T; Trần Ngọc T4; Trần Ngọc T12; Trần Ngọc T5; Trần Ngọc T6; Trần Ngọc T7; Trần Ngọc T8; Trần Thị Tuyết . Anh T12 đã chết tháng 02 năm 2006. Anh T12 có vợ là Nguyễn Thị H6 và có 02 con Trần Thị M và Trần Thị H5. Ông C2 có vợ là bà Nguyễn Thị H1 và có 05 người con là Trần Thu H2; Trần Thu H3; Trần Thu H4; Trần Thị Huyền T10 và Trần Quốc H7(chết năm 2015).

Cụ T11 chết tháng 11 năm 2003, cụ B chết năm 2011 đều không để lại di chúc. Di sản của các cụ để lại là ngôi nhà 02 tầng và quyền sử dụng đất diện tích 83m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số phát hành 00453 ngày 25/5/1994 (nay là thửa số 24, tờ bản đồ số 07) địa chỉ tại phố L, tổ dân phố T, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (thửa đất số 24).Năm 2015 gia đình bà T1 tự ý phá ngôi nhà 02 tầng để làm nhà 04 tầng nhưng không hỏi ý kiến của mọi người trong gia đình. Hiện nay, gia đình bà T1 vẫn đang quản lý, sử dụng đối với phần diện tích nhà đất trên. Việc bà T1 tự ý phá ngôi nhà 02 tầng của các cụ để lại đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đồng thừa kế. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giải quyết chia di sản thừa kế của cụ Trần Ngọc B và cụ Lê Thị T11 để lại là quyền sử dụng diện tích 83m² đất, thửa đất số 24, tờ bản đồ số 07 và ngôi nhà 02 tầng tại địa chỉ: phố L, tổ dân phố T, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CA 518090, số vào sổ CS01006 ngày 19/10/2015 đứng tên bà Trần Kim T1 chứng nhận quyền sử dụng diện tích 83m² thửa đất số 24, tờ bản đồ số 07, địa chỉ: phố L, tổ dân phố T, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh V cấp. Khi khởi kiện do ước giá trị tài sản thấp nên đề nghị nhận kỷ phần thừa kế là 12.000.000đ. Nhưng sau khi Hội đồng định giá định giá tài sản thì đề nghị được chia kỷ phần thừa kế mà nguyên đơn được hưởng thì đề nghị xin nhận bằng tiền là 700.000.000đ. Bản di chúc ngày 13/11/2003 là không hợp pháp, cụ T11 khi đó đã ốm nặng nên không thể ký được. Đề nghị giám định chữ ký của cụ T11 và cụ B.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Đặng Đức A trình bày: Bố mẹ bà Trần Kim T1 là cụ Trần Ngọc B, sinh năm 1928 và cụ Lê Thị T11, sinh năm 1930 kết hôn với nhau khoảng năm 1948. Quá trình chung sống cụ T11 và cụ B có 08 người con và thời gian ông D1, ông C2 chết, tên của vợ con ông D1 và ông C2 như bà Đ trình bày là đúng. Riêng các con của ông C2 có anh Nguyễn Quốc H8, sinh năm 1984 đã chết năm 2015, anh H8 chưa có vợ, con. Khi các anh chị em đến tuổi trưởng thành, lập gia đình và đều ra ở riêng, chỉ có ông L và ông C1 ở cùng các cụ đến khi các cụ qua đời. Cụ T11 chết ngày 02/12/2003, cụ B chết ngày 28/4/2011. Khi còn sống, các cụ đã tặng cho vợ chồng ông D1 nhà đất ở Cầu O - V; tặng cho vợ chồng ông C2, ông N nhà đất ở B - V; còn nhà đất diện tích 83m² mà bà Đ yêu cầu chia thừa kế ở phố L, phường N, V, Vĩnh Phúc hai cụ sống trên thửa đất này đến khi qua đời. Trước khi chết hai cụ đã lập di chúc định đoạt toàn bộ diện tích đất trên cho ông L và ông C1. Di chúc của cụ T11, cụ B đã được Ủy ban nhân dân phường N chứng thực ngày 13/11/2003. Sau khi cụ T11, cụ B chết, ông L và ông C1 đã căn cứ vào bản di chúc của hai cụ để liên hệ với Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ1 làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế, ngày 21/7/2015 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L và ông C1. Sau đó, ông L và ông C1 đã chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất của mình cho ông N, ông N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 09/9/2015 ông N làm hợp đồng tặng cho bà T1 toàn bộ quyền sử dụng đất trên và bà T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp lệ. Năm 2015 vợ chồng bà T1 và ông H đã xây dựng ngôi nhà 04 tầng trên đất. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà T1 đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Ngọc T5 vắng mặt tại phiên tòa. Tại biên bản tự khai ngày 28/6/2021, anh T5 trình bày: Cụ Trần Ngọc B và cụ Lê Thị T11 có 08 người con gồm: Ông Trần Ngọc D1 (đã chết năm 2006); ông Trần Ngọc C2 (đã chết), bà Trần Thị D, ông Trần Ngọc N, bà Trần Ngọc T13, bà Trần Kim T1, ông Trần Ngọc L và ông Trần Ngọc C1. Bố mẹ anh là ông Trần Ngọc D1 và bà Nguyễn Thị Đ có 08 người con là Trần Thị T; Trần Ngọc T4; Trần Ngọc T12 (đã chết); Trần Ngọc T5; Trần Ngọc T6; Trần Ngọc T7; Trần Ngọc T8; Trần Thị Tuyết . Cụ B chết năm 2011, cụ T11 chết năm 2003. Cụ B và cụ T11 chết không để lại di chúc, tài sản các cụ để lại là 83m² và ngôi nhà 02 tầng tại phố L, tổ dân phố T, phường N, T, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện nay, bà Trần Kim T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quản lý sử dụng. Đối với vụ án mà Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã thụ lý anh nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị T là hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà T1 và chia tài sản thừa kế theo pháp luật. Anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Ngọc T6 vắng mặt tại phiên tòa. Tại biên bản tự khai ngày 28/6/2021, anh T6 trình bày: Cụ Trần Ngọc B và cụ Lê Thị T11 có 08 người con gồm: Ông Trần Ngọc D1 (đã chết); ông Trần Ngọc C2 (đã chết), bà Trần Thị D, ông Trần Ngọc N, bà Trần Ngọc T13, bà Trần Kim T1, ông Trần Ngọc L và ông Trần Ngọc C1. Bố mẹ anh là ông Trần Ngọc D1 và bà Nguyễn Thị Đ có 08 người con là Trần Thị T; Trần Ngọc T4; Trần Ngọc T12(đã chết); Trần Ngọc T5; Trần Ngọc T6; Trần Ngọc T7; Trần Ngọc T8; Trần Thị Tuyết . Cụ B chết năm 2011, cụ T11 chết năm 2003. Cụ B và cụ T11 chết không để lại di chúc, tài sản các cụ để lại là 83m² và ngôi nhà 02 tầng tại phố L, tổ dân phố T, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện nay bà Trần Kim T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bà T1 đang quản lý sử dụng. Đối với vụ án mà Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã thụ lý anh Nhất t với yêu cầu khởi kiện của chị T là hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà T1 và chia tài sản thừa kế theo pháp luật. Anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị T9 vắng mặt tại phiên tòa. Tại biên bản tự khai ngày 14/6/2021, chị T9 trình bày: Cụ Trần Ngọc B và cụ Lê Thị T11 có 08 người con gồm: Ông Trần Ngọc D1 (đã chết năm 2005); ông Trần Ngọc C2 (đã chết), bà Trần Thị D, ông Trần Ngọc N, bà Trần Thị T3, bà Trần Kim T1, ông Trần Ngọc L và ông Trần Ngọc C1. Ông Trần Ngọc D1 và bà Nguyễn Thị Đ có 08 người con là Trần Thị T; Trần Ngọc T4; Trần Ngọc T5; Trần Ngọc T6; Trần Ngọc T7; Trần Ngọc T8; Trần Thị T9; Trần Ngọc T12 (đã chết) anh T12 có vợ là Nguyễn Thị H6 và 02 con là Trần Thị H5 và Trần Thị M. Cụ T11 chết năm 2003, cụ B chết năm 2011. Cụ B và cụ T11 chết không để lại di chúc, tài sản khi các cụ để lại là hơn 80m² và ngôi nhà 02 tầng tại phố L, tổ dân phố T, phường N, T, tỉnh Vĩnh Phúc. Tài sản này do bà Trần Kim T1 đang quản lý và sử dụng. Quan điểm của chị đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị T là hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà T1 và chia tài sản thừa kế theo pháp luật đối với tài sản của cụ T11 và cụ B để lại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Ngọc T7 vắng mặt tại phiên tòa. Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/6/2021, anh T7 trình bày: Anh là con đẻ của ông Trần Ngọc D1 và bà Nguyễn Thị Đ. Cụ Trần Ngọc B và cụ Lê Thị T11 có 08 người con gồm: Ông Trần Ngọc D1 (đã chết ngày 23/5/2006); ông Trần Ngọc C2 (đã chết), bà Trần Thị D, ông Trần Ngọc N, bà Trần Ngọc T13, bà Trần Kim T1, ông Trần Ngọc Lvà ông Trần Ngọc C1. Cụ T11 chết tháng 11 năm 2003, cụ B chết tháng 3 năm 2011. Trước khi chết không để lại di chúc. Tài sản khi các cụ để lại là diện tích đất 83m² và ngôi nhà 02 tầng tại phố L, tổ dân phố T, phường N, T, tỉnh Vĩnh Phúc. Anh đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị T là yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc hủy gấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Trần Kim T1 và chia tài sản thừa kế của cụ T11 và cụ B để lại để làm nơi thờ cúng cho dòng họ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa. Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/11/2020 bà H1 trình bày:Bà là vợ của ông Trần Ngọc C2 (chết năm 2013) là con dâu của cụ Trần Ngọc B và cụ Lê Thị T11. Vợ chồng bà có 05 người con là Trần Thu H2; Trần Thu H3; Trần Thu H4; Trần Thị Huyền T10 và Trần Quốc H7 (chết năm 2016). Cụ B và cụ T11 có 08 người con ông Trần Ngọc D1, ông Trần Ngọc C2, bà Trần Thị D, ông Trần Ngọc N, bà Trần Thị T3, bà Trần Kim T1, ông Trần Ngọc L và ông Trần Ngọc C1. Năm 2003 cụ T11 chết, năm 2011 cụ B chết không để lại di chúc. Di sản của các cụ để lại là ngôi nhà 02 tầng và quyền sử dụng đất diện tích 83m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành 00453 ngày 25/5/1994 (nay là thửa số 24, tờ bản đồ số 07) địa chỉ tại tổ dân phố số G, phố L, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.Năm 2015 gia đình bà T1 tự ý phá ngôi nhà 02 tầng để làm nhà 04 tầng nhưng không hỏi ý kiến của mọi người trong gia đình. Hiện nay gia đình bà T1 vẫn đang quản lý, sử dụng đối với phần diện tích nhà đất trên. Việc bà T1 tự ý phá ngôi nhà 02 tầng của các cụ để lại đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đồng thừa kế. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ CS 01006 ngày 19/10/2015 đứng tên bà Trần Kim T1 chứng nhận quyền sử dụng diện tích 83m² thửa đất số 24, tờ bản đồ số 07, địa chỉ: phố L, tổ dân phố T, phường N, V, Vĩnh Phúc do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh V cấp và đề nghị chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Trần Ngọc B và cụ Lê Thị T11 để lại là quyền sử dụng diện tích 83m² đất, thửa đất số 24, tờ bản đồ số 07 và ngôi nhà 02 tầng tại địa chỉ: phố L, tổ dân phố T, phường N, V, Vĩnh Phúc. Quan điểm của bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Ngọc N, ông Trần Ngọc L, ông Trần Ngọc C1, bà Trần Thị T3 đều thống nhất trình bày: Các ông bà đều thống nhất với lời trình bày của đại diện bị đơn và đồng ý với lời trình bày đó, không bổ sung nội dung gì. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các ông bà đều đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị D vắng mặt tại phiên tòa. Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/5/2022 bà D trình bày: Bố mẹ bà Trần Kim T1 là cụ Trần Ngọc B, sinh năm 1928 và cụ Lê Thị T11, sinh năm 1930 kết hôn với nhau khoảng năm 1948. Quá trình chung sống bố mẹ bà T1 có 08 người con ông Trần Ngọc D1, ông Trần Ngọc C2, bà Trần Thị D, ông Trần Ngọc N, bà Trần Thị T3, bà Trần Kim T1, ông Trần Ngọc L và ông Trần Ngọc C1. Khi các anh chị em đến tuổi trưởng thành, lập gia đình và đều ra ở riêng, chỉ có anh L và anh C1 ở cùng các cụ đến khi các cụ qua đời. Cụ T11 chết năm 2003, cụ B chết năm 2011. Khi còn sống, các cụ đã tặng cho nhà đất ở Cầu O, V cho vợ chồng anh D1; tặng cho vợ chồng anh C2, anh N nhà đất ở B, V; còn nhà đất diện tích 83m² ở phố L, phường N, V, Vĩnh Phúc hai cụ sống trên thửa đất này đến khi qua đời. Trước khi chết hai cụ đã lập di chúc định đoạt toàn bộ diện tích đất trên cho ông L và ông C1. Di chúc của các cụ đã được Ủy ban nhân dân phường N chứng thực ngày 13/11/2003. Sau khi cụ T11 và cụ B chết, ông L và ông C1 đã căn cứ vào di chúc của hai cụ để liên hệ với Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ1 làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế và đến ngày 21/7/2015 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L và ông C1. Sau đó, ông L và ông C1 đã nhượng lại quyền sử dụng đất của mình cho ông N, ông N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 09/9/2015 ông N làm hợp đồng tặng cho bà T1 toàn bộ quyền sử dụng đất trên và bà T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp lệ. Đến nay gia đình bà T1 đã xây dựng ngôi nhà 04 tầng trên đất. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Như H trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của đại diện bị đơn và đồng ý với lời trình bày đó. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở tài nguyên và môi trường tỉnh V vắng mặt tại phiên tòa. Tại bản tự khai ngày 30/11/2020 ông Nguyễn Trung T14 đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 14/9/2015, Văn phòng Đ1 Chi nhánh V nhận được hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Trần Ngọc N cho bà Trần Kim T1, thửa đất số 24, tờ bản đồ 7, diện tích 83,0m², mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất tại: phố L, tổ dân phố T, phường N, thành phố V. Hồ sơ gồm:

  • GCNQSDĐ đã cấp cho ông Trần Ngọc N, số phát hành CA 553149, số vào sổ cấp GCN CS 00601, do Sở T cấp ngày 04/9/2015 (bản gốc);
  • Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà ông Trần Ngọc N cho bà Trần Kim T1, lập tại Văn phòng C4 ngày 09/9/2015;
  • Tờ khai thuế thu nhập cá nhân, tờ khai lệ phí trước bạ;
  • Đơn đăng ký, cấp GCNQSDĐ.

Sau khi nhận đủ hồ sơ, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đã thực hiện thẩm tra hồ sơ và lập Phiếu chuyển thông tin địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính ngày 18/9/2015;

Ngày 02/10/2015, Chi nhánh nhận Thông báo thuế (thuế thu nhập từ chuyển nhượng BĐS và lệ phí trước bạ nhà đất thửa đất số 24, tờ bản đồ số 7, phố L, Ngô Q, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc diện tích 83,0m² – trường hợp không phải nộp tiền);

Căn cứ Điều 99, Luật đất đai năm 2013, Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Khoản 2, Điều 9, Thông tư 24/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T15, Văn phòng Đ1 chi nhánh V đã lập phiếu trình hồ sơ, trình cấp có thẩm quyền cấp GCN QSDĐ cho bà Trần Kim T1;

Ngày 19/10/2015, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V đã cấp GCNQSDĐ cho bà Trần Kim T1, thửa đất số 24, tờ bản đồ 7, diện tích 83,0m², mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất tại: phố L, tổ dân phố T, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, số phát hành CA 518090, số vào sổ cấp GCNQSDĐ CS01006.

Căn cứ theo Luật đất đai năm 2013, các văn bản hướng dẫn thi hành của Luật đất đai năm 2013, Văn phòng Đ1 chi nhánh V trình hồ sơ tới cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp GCNQSDĐ cho bà Trần Kim T1 là đúng quy định.

Trên đây là bản tự khai về những nội dung liên quan đến hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Trần Ngọc N cho bà Trần Kim T1, thửa đất số 24, tờ bản đồ 7, diện tích 83,0m², mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất tại: phố L, tổ dân phố T, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Đề nghị tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Anh Trần Ngọc T4; anh Trần Ngọc T8; bà Nguyễn Thị H6, chị Trần Thị H5 và chị Trần Thị M; chị Trần Thu H2, chị Trần Thu H3, chị Trần Thu H4, chị Trần Thị Huyền T10 vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không thu thập được chứng cứ đối với những người này.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2023/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Căn cứ Khoản 5 Điều 26, Các Điều 34, 37, 147, 156, 157 và Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 Luật tố tụng Hành chính; các Điều 649,650,651,652,653, 655,656,660 Bộ luật dân sự năm 1995; Các Điều 623, 646, 650, 651 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a, khoản 7, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T đề nghị chia tài sản thừa kế của cụ Trần Ngọc B và cụ Lê Thị T11 là ngôi nhà 02 tầng và quyền sử dụng đất diện tích 83m² thuộc thửa số 24, tờ bản đồ số 07, tại phố L, tổ dân phố T, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T về yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CA518090, số vào sổ CS 01006 đối với thửa số 24, tờ bản đồ số 07, diện tích 83m²tại phố L, tổ dân phố T, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh V cấp ngày 19/10/2015 cho bà Trần Kim T1.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/12/2022 nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án; đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự vắng mặt; nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thành phần Hội đồng xét xử và phạm vi xét xử phúc thẩm đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về quan hệ pháp luật, Tòa án sơ thẩm xác định đây là tranh chấp di sản thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chính xác.

- Về nội dung vụ án: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giải quyết chia di sản thừa kế của cụ Trần Ngọc B và cụ Lê Thị T11 để lại là quyền sử dụng diện tích 83m² đất, thửa đất số 24, tờ bản đồ số 07 và ngôi nhà 02 tầng tại địa chỉ: phố L, tổ dân phố T, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CA 518090, số vào sổ CS01006 ngày 19/10/2015 đứng tên bà Trần Kim T1 chứng nhận quyền sử dụng diện tích 83m² thửa đất số 24, tờ bản đồ số 07, địa chỉ: phố L, tổ dân phố T, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh V cấp.

Xét kháng cáo của đương sự: di chúc của cụ B, cụ T11 để lại là hợp pháp và các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông L, ông C1, ông N và bà T1 đều được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Bản án sơ thẩm không có căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về chia tài sản thừa kế theo pháp luật đối với thửa số 24 là đúng pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp của các bên là tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo quy định của pháp luật thời hiệu khởi kiện chia thừa kế vẫn còn và di sản được chia theo quy định của pháp luật cho các đồng thừa kế. Đơn kháng cáo của nguyên đon Trần Thị T được gửi đến Tòa án sơ thâm trong thời hạn quy định.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn:

Theo tài liệu của hồ sơ vụ án,

Về phía nguyên đơn và các đương sự khác nhất trí với bản án sơ thẩm về hàng thừa kế.

Ngày 13/11/2003 cụ B, cụ T11 đã lập di chúc về việc chia tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 24 và tài sản gắn liền với đất cho hai contrai là ông Trần Ngọc L và ông Trần Ngọc C1. Người lập di chúc là cụ T11 và cụ B và người nhận thừa kế là ông L và ông C1 đã ký vào di chúc. Di chúc được lập tại Ủy ban nhân dân phường N và được Ủy ban nhân dân phường N chứng thực. Di chúc lập năm 2003 thời điểm Bộ luật dân sự năm 1995 đang có hiệu lực. Di chúc được lập là hợp pháp theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995. Nội dung di chúc là có điều kiện, cụ thể ông L và ông C1 được hưởng thừa kế quyền sử dụng thửa đất số 24 nhưng phải có trách nhiệm chăm sóc người để lại di sản khi ốm đau, chỉ được sử dụng để làm nhà ở và kinh doanh. Nếu bán thì chỉ được bán cho bà D hoặc ông N. Từ khi lập di chúc đến khi cụ B chết thì cụ T11 và cụ B không có văn bản giấy tờ gì về việc thay đổi nội dung di chúc nên sau khi cụ B chết căn cứ vào di chúclập ngày 13/11/2003 ông L và ông C1 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 24, giấy có số phát hành CA553805, số vào sổ 00586 ngày 21/7/2015.

Tại cấp phúc thẩm, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã ủy thác thu thập chứng cứ. Theo kết quả thu thập chứng cứ, tại bản di chúc luu tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố V (cũ là Thị xã V), tỉnh Vĩnh Phúc được lập lúc 13h ngày 13/11/2003; lập xong hồi 14h cùng ngày; số vào số chứng thực số 03. Do vậy, di chúc của cụ B, cụ T11 để lại là hợp pháp và các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông L, ông C1, ông N và bà T1 đều được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Nên thửa đất số 24 đến thời điểm nguyên đơn khởi kiện không còn là di sản thừa kế của cụ B và cụ T11 nữa. Xét thấy, ngày 12/8/2015 ông L và ông C1 đã làm hợp đồng tặng cho ông N thửa đất số 24. Như vậy, ông L và ông C1 đã thực hiện đúng các điều kiện của di chúc. Ông N đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 24 ngày 04/9/2015, giấy có số phát hành CA 553149, số vào sổ CS00601. Như vậy, đến thời điểm ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông N không phải là người hưởng di sản, ông N không bị ràng buộc bởi điều kiện của di chúc nên ngày 09/9/2015 ông N làm hợp đồng tặng cho bà Trần Kim T1 thửa đất số 24. Bà T1 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 24 ngày 19/10/2015, giấy có số phát hành CA518090, số vào sổ CA01006. Việc ông N tặng cho bà T1 được lập hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật và bà T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phù hợp quy định của pháp luật. Do đó,không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn cho rằng di chúc của cụ cụ B, cụ T11 để lại là giả tạo, về chia tài sản thừa kế theo pháp luật đối với thửa số 24.

Tại phiên tòa phúc thẩm quan điểm của đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội giữ nguyên quyết định tại bản án DSST số 43/2022/DSSTcủa Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc là phù hợp.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí:

Theo quy định của pháp luật bà Trần Thị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị T; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 43/2022/DSST của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
  2. Về án phí: bà Trần Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận bà Trần Thị T đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006938 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Mai Anh Tài Nguyễn Phan Nam Điều Văn Hằng

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Điều Văn Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 577/2023/DS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp chia thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 577/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger