|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 577/2024/HS-ST
Ngày: 19- 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Cao Quốc Hưng
- Ông Võ văn Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 553/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 609/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Bạch L, sinh năm: 1995; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Ấp D, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn S (sinh năm 1967) và bà Đào Thị T (sinh năm 1973); Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 22/11/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 18 tháng, chấp hành xong ngày 07/3/2023; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/12/2023 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
-
Huỳnh Tấn T1, sinh năm 2002; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: D Đường N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Huỳnh Ngọc Đ (sinh năm 1983) và bà Lê Thị D (đã chết). Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có 02 người con; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/12/2023 đến nay – Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
-
Anh Nguyễn Đoàn Thanh P, sinh năm 2003;
Địa chỉ: Số I Đường số D, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Anh Nguyễn Thanh V, sinh năm 1997;
Địa chỉ: Số I Đường L, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Anh P, anh V vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền nên L nảy sinh ý định lừa đảo người khác để chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích sử dụng hoặc bán lấy tiền tiêu xài. Ngày 25/11/2023, L sử dụng tài khoản tên “thanghexahoi” của mạng xã hội Telegram kết bạn với 01 người sử dụng tài khoản tên “Admin” trong nhóm “Làmbillảo”. Qua trao đổi L biết “Admin” có khả năng làm giả phiếu chuyển tiền qua tài khoản của nhiều ngân hàng và thu phí dịch vụ là 30.000 đồng/1 lần làm giả. L nói với T1 ý định của L sẽ chiếm đoạt tài sản của người khác bằng việc đặt mua hàng qua mạng Internet và gửi phiếu chuyển tiền giả để đánh lừa người bán hàng và nhân viên giao hàng, T1 đồng ý giúp L.
Ngày 26/11/2023, L lên mạng xã hội Facebook thỏa thuận mua 01 dàn áo nhựa, 01 phuộc sau xe Suzuki Sport đời 1999, 01 bình nhớt dành cho xe 4 thì và 01 bình nhớt dành cho xe 2 thì của chị Lê Hoàng Thảo L1 đăng bán hàng trên nhóm “PHỤ TÙNG XIPO” với giá 8.560.000 đồng (tính cả tiền ship). Chị L1 nhận đơn và giao số phụ tùng xe cho Công ty J để vận chuyển hàng đến cho L kèm điều kiện người vận chuyển sẽ thu hộ tiền hàng; Công ty J giao hàng cho anh Nguyễn Đoàn Thanh P (sinh năm 2003, nhân viên Công ty) để giao hàng cho L. Khoảng 16 giờ 00 ngày 26/11/2023, anh P liên lạc với L và hẹn địa điểm giao hàng tại trước cổng nhà thờ L, đoạn giao nhau giữa đường B và đường P, Khu phố A, phường L, thành phố T. Do cần phải tránh gặp mặt anh P để có thời gian làm giả phiếu chuyển tiền, L gọi điện thoại cho T1 nhờ T1 ra điểm hẹn lấy hàng từ anh P. T1 nhận điện thoại và biết L sẽ lừa đảo người bán hàng nhưng vẫn đồng ý giúp L nhưng do xe môtô của T1 bị hết xăng nên T1 gọi điện thoại cho Nguyễn Xuân V1 (sinh năm 1997, hiện đã bỏ trốn chưa làm việc được) nhờ V1 dùng xe máy điện đi cùng T1 lấy hàng cho L, T1 không nói cho V1 biết việc lừa đảo tài sản của L. Đến 16 giờ 10 phút cùng ngày, T1 và V1 gặp anh P tại địa điểm đã hẹn thì anh P yêu cầu thanh toán số tiền mua hàng là 8.560.000 đồng thì mới giao hàng, V1 nói anh P gọi cho L để chuyển tiền. Sau khi liên lạc với anh P, Long nhắn thông tin số tiền, số tài khoản, tên của người chủ hàng, tên ngân hàng và nội dung chuyển tiền cho tài khoản T2 tên “A” để làm giả 01 phiếu chuyển tiền, “Admin” làm giả xong 01 phiếu chuyển tiền giả thì gửi lại cho L 01 tấm ảnh có nội dung thể hiện L đã chuyển tiền đến tài khoản chị Lê Hoàng Thảo L1 cho L, L gửi ảnh phiếu chuyển tiền giả cho chủ hàng là chị Lê Hoàng Thảo L1 sau đó L điện cho anh P nói đã chuyển tiền cho chủ hàng và L có “bo” cho anh P 100.000 đồng. Sau khi nghe L nói đã chuyển tiền, anh P gọi điện thoại cho chị L1 để xác nhận thì chị L1 trả lời đã thấy hình chuyển tiền nhưng vẫn chưa nhận được tiền. Trong lúc anh P đang nói chuyện điện thoại với chị L1 thì T1 tự ý lục giỏ hàng của anh P sau đó lấy thùng hàng rồi cả hai điều khiển xe đạp điện bỏ đi, do tin tưởng L đã chuyển tiền nên anh P không nói gì và nói chị L1 chờ chút nữa xem sao rồi tiếp tục đi giao hàng. Một lúc sau, chị L1 gọi điện thoại cho anh P biết vẫn chưa nhận được tiền, lúc này anh P gọi điện thoại cho L thì L không trả lời và chặn liên lạc, anh P biết đã bị lừa nên đến Công an phường L trình báo sự việc.
Quá trình xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã triệu tập L, T1 lên làm việc. Qua đấu tranh, L, T1 khai nhận hành vi như trên và giao nộp lại số phụ tùng của chị L1, đối với 02 bình nhớt L đã sử dụng, không thu hồi được. Kết quả xét nghiệm ma túy đối với L, T1: Dương tính.
Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại di động của L, kết quả: tài khoản tên “thanghexahoi" có 01 số tin nhắn với tài khoản tên “Admin” tuy nhiên các tin nhắn, cuộc gọi và hình ảnh liên quan đến việc làm giả phiếu chuyển tiền thì không còn do bên phía “Admin” đã xóa nội dung, L khai nhận chưa trả tiền công làm giả giấy chuyển tiền cho “Admin”.
Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã xác minh Nguyễn Xuân V1, kết quả: đối tượng trên hiện không có mặt tại địa phương.
Ngoài vụ lừa đảo tài sản nêu trên, Nguyễn Bạch L còn khai nhận: Vào ngày 11/11/2023, L thấy anh Nguyễn Thanh V (Sinh năm: 1997) đăng bán 01 điện thoại di động hiệu N 7 với giá 7.000.000 đồng trên ứng dụng điện thoại “Chợ tốt” nên nảy sinh ý định lừa đảo chiếc điện thoại di động trên. L liên lạc và hẹn gặp anh V ở sảnh chung cư S, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để mua bán chiếc điện thoại di động. Đến 12 giờ 00 phút cùng ngày, tại sảnh chung cư S Vinhomes G, anh V đã gặp và đưa cho L xem chiếc điện thoại, L trả giá mua là 6.500.000 đồng, anh V đồng ý bán và đưa điện thoại di động cho L cầm, L giả vờ gọi điện thoại và nói to “em lấy tiền đem xuống thang máy để anh đưa tiền cho người ta” nhằm mục đích cho anh V nghĩ rằng L đang đi lại thang máy lấy tiền sau đó L cầm máy điện thoại di động đi về hướng thang máy rồi lén lút đi cửa sau xuống hầm giữ xe lấy xe môtô (không rõ biển số) bỏ trốn. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, anh V đã đến Công an phường trình báo sự việc. Ngày 15/11/2023, L đã trao đổi chiếc điện thoại trên với 01 người thanh niên (chưa rõ lai lịch, quen trên mạng) để lấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi Black Sark 5 sau đó L đã đổi chiếc Xiaomi Black Sark 5 lấy 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 để sử dụng cho đến ngày bị bắt.
Vật chứng vụ án:
- - 01 dàn ốp nhựa, 01 phuộc sau xe Suzuki Sport đời 1999, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho bị hại;
- - 02 bình nhớt máy không thu hồi được;
- - 01 điện thoại di động hiệu Nubia Red Magic 7 không thu hồi được;
- - 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 thu của L;
- - 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10s thu của T1;
Kết luận định giá tài sản số 146-KV2/KLDG-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận:
- - 01 điện thoại di động hiệu Nubia Red Magic 7 trị giá là 6.130.000 đồng;
- - 01 dàn ốp nhựa xe Suzuki Sport năm 1999 gồm: 01 lô gô mặt nạ 1.1 xe Suzuki Sport năm 1999, 01 đồng hồ 3 kim trắng xe Suzuki Sport năm 1999, 01 bùng xe Suzuki Sport xe Suzuki Sport năm 1999; 01 phuộc sau theo zin SGP; 01 bình nhớt 2T Shell; 01 bình nhớt máy Liqui, trị giá là 8.572.000 đồng.
Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn S (cha bị cáo L) đã bồi thường cho anh Nguyễn Đoàn Thanh P 439.000 đồng là tiền 02 bình nhớt máy không thu hồi được, anh P không có yêu cầu gì khác; anh S đã bồi thường cho anh Nguyễn Thanh V 6.130.000 đồng tiền chiếc điện thoại di động Nubia Red Magic 7, anh V có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo.
Quá trình điều tra, Nguyễn Bạch L và Huỳnh Tấn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi như trên, phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 520/CT-VKSTPTĐ ngày 24/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Nguyễn Bạch L, Huỳnh Tấn T1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Bạch L từ 1 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 12/12/2023.
- Áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 12/12/2023.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.
[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, bản ảnh, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 00 ngày 26/11/2023, tại trước cổng nhà thờ L2, đoạn giao nhau giữa đường B và đường P, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Bạch L, Huỳnh Tấn T1 đã thực hiện hành vi mua hàng sau đó tạo hình ảnh tin nhắn chuyển tiền giả để chiếm đoạt 01 dàn áo nhựa, 01 phuộc sau xe Suzuki Sport đời 1999, 01 bình nhớt dành cho xe 4 thì và 01 bình nhớt dành cho xe 2 thì có tổng trị giá là 8.560.000 đồng của chị Lê Hoàng Thảo L1 do anh Nguyễn Đoàn Thanh P (Nhân viên Công ty J1) đang trực tiếp quản lý, sau đó đã bị bắt. Ngoài ra quá trình điều tra còn xác định vào lúc 12 giờ 00 phút ngày 11/11/2023, Nguyễn Bạch L còn thực hiện hành vi giả vờ mua sau đó lợi dụng sơ hở của anh Nguyễn Thanh V để chiếm đoạt 01 điện thoại di động Nubia Red Magic 7 trị giá 6.130.000 đồng của anh V. Tổng trị gái tài sản L chiếm đoạt trong 02 vụ là 14.702.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Các bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Tổng giá trị tài sản bị cáo Nguyễn Bạch L đã chiếm đoạt là 14.702.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo Huỳnh Tấn T1 đã chiếm đoạt là 8.570.000 đồng do đó các bị cáo bị đưa ra xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Bạch L đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Huỳnh Tấn T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Đối với bị cáo Nguyễn Bạch L: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Gia đình bị cáo L đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại, bị hại - anh Nguyễn Thanh V có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo L do đó bị cáo L được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Huỳnh Tấn T1: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa, bị cáo L xác nhận đã tác động gia đình để khắc phục hậu quả cho cả hai bị cáo, đồng thời không yêu cầu bị cáo T1 hoàn trả lại số tiền trên. Do đó bị cáo T1 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với hình thức đồng phạm giản đơn, cả hai bị cáo đều có vai trò thực hành, trực tiếp thực hiện việc chiếm đoạt tài sản. Bị cáo Nguyễn Bạch L phạm tội nhiều lần nên cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Đối với đối tượng Nguyễn Xuân V1: Giao cho Cơ quan Công an tiếp tục làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 dàn ốp nhựa, 01 phuộc sau xe Suzuki Sport đời 1999, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho bị hại là có căn cứ;
- - Đối với 02 bình nhớt máy không thu hồi được; 01 điện thoại di động hiệu N 7 không thu hồi được. Ông Nguyễn Văn S – đại diện gia đình bị cáo L đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và không có đề nghị gì thêm do đó Hội đồng xét xử không xem xét;
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 thu của bị cáo L và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10s thu của bị cáo T1. Xét đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Anh Nguyễn Đoàn Thanh P, anh Nguyễn Thanh V đã nhận lại tài sản và tiền khắc phục hậu quả, cả hai không có yêu cầu gì đối với 02 bị cáo.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bạch L, Huỳnh Tấn T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
-
Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Bạch L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2023;
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T1 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2023;
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11, số IMEI 1: 860320062809265, số IMEI 2: 860320062809273; 01 điện thoại Samsung Galaxy A10s, số seri R9AM801WOXJ, số IMEI 1: 358176102241110, số IMEI 2: 358177102241118
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 431 ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho số NK24/348C ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
-
Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
Buộc bị cáo Nguyễn Bạch L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Buộc bị cáo Huỳnh Tấn T1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, bị hại được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Thu |
Bản án số 577/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 577/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYEN BACH L VA DONG PHAM-LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
