Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 577/2024/HSST

Ngày 29/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thái;
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Danh;
  • Bà Thiều Thị Phi Loan;
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lâm Thị Thảo;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia
    phiên tòa: Ông Bùi Văn Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, vụ án hình sự thụ lý số 595/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 594/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Hữu P, sinh năm 1995, tại Sóc Trăng; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: ấp N, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ở hiện nay: 4, khu phố L, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Út H, sinh năm 1960 và bà Sơn Thị G, sinh năm 1960; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; Có vợ tên: Trần Thị Thanh T, sinh năm 1992, có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt ngày 28/6/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B - Bị cáo có mặt.

❖ Người làm chứng: Anh Lê Thành Đ, sinh năm 2001 - vắng mặt;

Địa chỉ: 1, khu phố L, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 28/6/2024, P muốn đi mua ma túy để sử dụng, P nhờ anh Lê Thành Đ (bạn P, sinh năm 2001, ngụ tại 1 khu phố L, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) chở P đi đến khu vực ngã tư Vũng Tàu thuộc phường L, thành phố B công việc (P không nói cho anh Đ biết chở đi mua ma túy), anh Đại đồng Ý. Anh Đ điều khiển xe mô tô biển số 60F3- 068.02 chở P đi đến khu vực ngã tư Vũng Tàu, P yêu cầu anh Đ dừng xe đứng đợi. P đi đến quán C thuộc tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua của 01 người phụ nữa (không rõ lai lịch) 01 tép ma túy tổng hợp (ma túy đá, đựng trong đoạn ống nhựa được hàn kín 02 đầu) với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Sau khi mua ma túy, P cất giấu tép ma túy vào túi áo phía trước bên trái rồi nói anh Đ chở về nhà P.

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi anh Đ chở P đến trước nhà số L, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an tỉnh Đ phối hợp Công an phường L phát hiện bắt quả tang, lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.

Tại Cơ quan điều tra Phạm Hữu P đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

❖ Vật chứng vụ án:

  • - 01 tép ma túy đựng trong đoạn ống nhựa màu trắng thu giữ trong túi áo bên trái của Phạm Hữu P đã được niêm phong có chữ ký của Phạm Hữu P và dấu mộc của Công an phường L.
  • - 01 xe mô tô biển số 60F3-068.02. Kết quả điều tra xác định: Xe mô biển số 60F3-068.02 do anh Lê Thành Đ đăng ký sở hữu. Anh Đ không biết việc P nhờ lấy xe mô tô nêu trên chở P để đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả xe mô tô nêu trên cho anh Lê Thành Đ.

❖ Tại Kết luận giám định số 1343/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:

Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, khối lượng 0,136 gam, loại Methamphetamine.

❖ Tại Bản Cáo trạng số 581/CT-VKSBH ngày 03 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Phạm Hữu P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau:

  • + Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
  • + Tình tiết tăng nặng: không.

Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Phạm Hữu P mức án từ 12 tháng tù đến 16 tháng tù.

❖ Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.

❖ Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tổ tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi và quyết định đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay là thống nhất, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.

Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 15 giờ 10 phút ngày 28/6/2024, tại đoạn đường trước nhà số L, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Phạm Hữu P có hành vi tàng trữ trái phép 0,136 gam ma tuý, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, xét thấy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với người phụ nữ (chưa rõ lai lịch) có hành vi bán trái phép chất ma túy cho P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh xử lý.

Đối với Lê Thành Đ có hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, Ủy ban phường L đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nêu trên, để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong niêm phong số 1343/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Phạm Hữu P 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/6/2024.

  3. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong niêm phong số 1343/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

  4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan điều tra - Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Quốc Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 577/2024/HSST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 577/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger