|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 577/2024/DS-ST Ngày: 19-8-2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Phước Trinh.
- Bà Phạm Thị Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 602/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 263/2024 /QĐST-DS ngày 31 tháng 05 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 21/2024/QĐST-DS ngày 25/6/2024; Thông báo mở lại phiên tòa số 602/2TGB-TA ngày 08/7/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 36/2024/QĐST-DS ngày 31/7/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Trần Ngọc B, sinh năm: 1975 (Có mặt).
Địa chỉ: Số C N, khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Bị đơn: Ông Vũ Đức An B1, sinh năm 1995 (Có mặt).
Địa chỉ: Số D T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: 1 C, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Minh S, sinh năm 1998 (Vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1972 (Vắng mặt).
- Bà Phạm Ngọc D, sinh năm: 1973 (xin vắng mặt); Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Chu Thị N, sinh năm: 1965 (xin vắng mặt). Địa chỉ: H X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Trần Văn H, sinh năm: 1966 (xin vắng mặt). Địa chỉ: F Đường số B, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: Tổ H, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện của ông Trần Ngọc B ngày 13/10/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn trình bày như sau:
Ngày 15 tháng 11 năm 2018 ông Vũ Đức An B1 có bán cho tôi một phần thửa đất số 578 (578-1, 578-2) tờ bản đồ số 50 (TL 2023) tại địa chỉ: xã T, huyện C, Thành Phố Hồ Chí Minh, diện tích mua bán là 104m². Hiện tại tôi không nhận được phần đất đã mua do chủ đất cũ (người bán cho ông Vũ Đức An B1) rào lại và không cho tôi sử dụng.
Yêu cầu Tòa án tuyên văn bản của văn bằng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà ở được lập ngày 15 tháng 11 năm 2018 giữa ông Vũ Đức An B1 và ông Trần Ngọc B là vô hiệu. Yêu cầu ông Vũ Đức An B1 trả lại tôi số tiền 440.000.000 (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng). Không yêu cầu tính lãi, yêu cầu trả lại 01 lần.
* Bị đơn ông Vũ Đức An B1 trình bày:
Tại phiên tòa, ông Vũ Đức An B1 đồng ý trả số tiền 440.000.000 (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng) cho ông Trần Ngọc B.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh S và bà Nguyễn Thị M vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H, bà Chu Thị N và bà Phạm Ngọc D có đơn xin vắng mặt.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi:
- Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng nội dung quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015: Vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền; việc Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định; thời hạn gửi Thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát cùng cấp đúng quy định; thời hạn gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định; thời hạn gửi hồ sơ còn chưa đúng quy định; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng thời gian, địa điểm được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định, việc tham gia hỏi tại phiên tòa đúng quy định. Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 122, 123, 131, 280, 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H, bà Chu Thị N và bà Phạm Ngọc D có đơn xin vắng mặt. Ông Nguyễn Minh S và bà Nguyễn Thị M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.
Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự này.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên vô hiệu văn bản thỏa thuận và cam kết chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng Thửa đất số 578 (578-1,578-2), tờ bản đồ số 50, bộ địa chính xã T, huyện C, buộc bị đơn ông An B1 phải trả số tiền đã nhận theo hợp đồng. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3] Thửa đất 578 (578-1, 578-2) các đương sự tranh chấp tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[4] Xét văn bản thỏa thuận và cam kết chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng Thửa đất số 578 lập ngày 15/11/2018, được công ty L lập vi bằng, là tình tiết sự kiện không cần chứng minh quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, có cơ sở xác định ông Vũ Đức An B1 có ký văn bản thỏa thuận cam kết chuyển nhượng cho ông Trần Ngọc B Thửa đất số 578 với giá 440.000.000 (bốn trăm bốn mươi triệu) đồng.
[5] Tại hồ sơ vi bằng số 638/2018/CN-MBNĐ ngày 15/11/2018, Công ty L đã lập vi bằng chứng kiến việc ông Trần Ngọc B giao cho ông Vũ Đức An B1 giao thêm số tiền 440.000.000đ (bốn trăm bốn mươi triệu đồng) theo văn bản thỏa thuận chuyển nhượng Thửa đất số 578 (578-1, 578-2) tờ bản đồ số 50, bộ địa chính xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích là 104m² với giá 440.000.000đồng. Ông Trần Ngọc B đã giao đủ số tiền 440.000.000đồng cho ông An B1
[6] Tại Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà ở ngày 20/7/2018 giữa ông Nguyễn Văn S1 và ông Vũ Đức An B1 thể hiện ông S1 đã chuyển nhượng cho ông An B1 một phần thửa đất 578 (578-1, 578-2), tờ bản đồ số 50, diện tích 260,4m² với giá 850.000.000 đồng.
[7] Căn cứ kết quả xác minh phần đất tranh chấp hiện do Văn phòng Đ chi nhánh huyện C cung cấp, thể hiện một phần thửa đất 578, gồm thửa 578-1 và 578-2 có nguồn gốc như sau:
- Đối với thửa 578-1: Ông Nguyễn Văn S1 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hoàng Y, được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/7/2001. Sau đó, bà Y chuyển nhượng cho bà Chu Thị N, được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/5/2011.
- Đối với thửa 578-2: Ông Nguyễn Văn S1 chuyển nhượng cho bà Phạm Ngọc D, được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/5/2002. Sau đó, bà D chuyển nhượng cho ông Trần Văn H, được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/4/2008.
[8] Như vậy, Ông Vũ Đức An B1 không phải là chủ sử dụng đất nhưng lại ký văn bản thỏa thuận cam kết chuyển nhượng thửa đất số 578-1 và 578-2, tờ bản đồ số 50, địa chỉ: xã T, huyện C, TP . cho ông Trần Ngọc B là trái quy định tại Điều 188 Luật đất đai 2013. Yêu cầu tuyên vô hiệu văn bản thỏa thuận cam kết chuyển nhượng lập ngày 15/11/2018 của ông Trần Ngọc B là có cơ sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Điều 131 Bộ luật Dân sự quy định hợp đồng vô hiệu, các bên phải giao trả lại nhau những gì đã nhận. Ông Vũ Đức An B1 phải hoàn trả cho ông Trần Ngọc B số tiền 440.000.000đồng đã nhận. Ông Trần Ngọc B chưa nhận đất nên không phát sinh nghĩa vụ hoàn trả.
[10] Ông Trần Ngọc B không yêu cầu giải quyết về bồi thường thiệt hại. Ông Trần Ngọc B yêu cầu nhận lại số tiền 440.000.000đồng và ông Vũ Đức An B1 đồng ý trả số tiền 440.000.000 (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng) cho ông Trần Ngọc B. Xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp nên ghi nhận.
[11] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Vũ Đức An B1 phải chịu 21.900.000 (Hai mươi mốt triệu chín trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của ông Trần Ngọc B được Hội đồng xét xử chấp nhận (gồm trả lại số tiền 440.000.000đồng và văn bản thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà vô hiệu).
[12] Xét quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 58, Điều 146, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Căn cứ vào Điều 122, Điều 123, Điều 131 của Bộ luật Dân sự;
- - Căn cứ Điều 167, Điều 188 Luật đất đai 2013;
- - Căn cứ vào Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Ngọc B
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản bản án hoặc ngày niêm yết./.
- Tuyên Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 15/11/2018 giữa ông Trần Ngọc B và ông Vũ Đức An B1 là vô hiệu.
- Buộc ông Vũ Đức An B1 phải hoàn trả cho ông Trần Ngọc B số tiền 440.000.000 (bốn trăm bốn mươi triệu) đồng.
Thi hành khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong số tiền phải thi hành thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
- Ông Vũ Đức An B1 phải chịu 21.900.000 (Hai mươi mốt triệu chín trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Trần Ngọc B được hoàn trả lại 10.800.000 (mười triệu tám trăm nghìn) đồng tiền án phí đã tạm nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0018651 ngày 15/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Ngọc |
Bản án số 577/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 577/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc B - Vũ Đức An B
