Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 577/2025/HS-PT

Ngày: 20 -11 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh
Bà Bùi Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 227/2025/TLPT-HS ngày 15/9/2025 đối với các bị cáo Trình Văn H và Trình Văn H1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự số 175/2025/HS-ST ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân Đồng Nai.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Trình Văn H, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/12/2000 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú: Ấp A, xã B, huyện T (nay là xã B), tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Số căn cước công dân: [...] cấp ngày 20/8/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C; Họ tên cha: Trình Văn H1, sinh năm: 1976; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1979; Bị cáo là con út trong gia đình có 02 anh em; Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ ngày 29/10/2023 và chuyển tạm giam đến nay (có mặt).

  3. Trình Văn H1, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20/5/1976 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú: Ấp A, xã B, huyện T (nay là xã B), tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Tự do; Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 20/8/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C; Họ tên cha: Trình Ngọc T, sinh năm 1929 (đã chết); Họ tên mẹ: Trình Thị T1, sinh năm 1933 (đã chết); Bị cáo là con út trong gia đình có 06 anh chị em; Họ tên vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1979; Bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2000. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 24/11/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 07 năm tù về tội “Giết người” (đã chấp hành xong hình phạt tù và bồi thường dân sự, án phí).

Bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ ngày 29/10/2023 và chuyển tạm giam đến nay (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Trình Văn H, Trình Văn H1 theo yêu cầu: có Luật sư Vũ Văn T2 – Đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).

(Ngoài ra, vụ án còn có các đại diện bị hại không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 29/10/2023, Trình Văn H1, sinh năm 1976, thường trú ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai đi ra trước nhà thì nhìn thấy 01 nhóm người đang cãi nhau, trong đó có Lê Thanh H2, sinh năm 1966, thường trú tại ấp V, xã V, huyện U, tỉnh Kiên Giang (chỗ ở ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai) đang cãi nhau với một thanh niên (không rõ họ tên, năm sinh) ở trọ trong xóm nơi H1 sinh sống nên H1 đi đến can ngăn và nói người thanh niên này đi về.

Đến 17 giờ 17 phút cùng ngày, H2 nhờ một người thanh niên (không rõ tên tuổi) điều khiển xe mô tô chở H2 đến dừng xe trước nhà H1 yêu cầu H1 gọi người thanh niên vừa cãi nhau với H2 trước đó ra gặp H2 để nói chuyện, nếu H1 không gọi thì H2 sẽ không để cho H1 yên, thì H1 trả lời “Không biết người đó là ai”. Lúc này, Trình Văn H3, sinh năm 1999 (con trai H1) đang ở trong nhà thấy có người đe dọa Huấn nên đã cầm 01 ghế nhựa màu vàng đi từ trong nhà ra để đe dọa, dùng tay đẩy H2 01 cái vào vai và nói “Ông là cái gì mà yêu cầu bố tôi phải đi kiếm người cho ông” thì được chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1979 (là mẹ ruột của H3) chạy ra can ngăn nên H3 cầm ghế nhựa đi vào nhà, còn H2 lên xe mô tô bỏ đi, trước khi bỏ đi thì H2 chỉ tay về phía H3 và H1 đe dọa.

Đến 17 giờ 49 phút cùng ngày, H2 cùng Lê Văn Ý, sinh năm 1994 (con trai H2); Nguyễn Văn R, năm sinh 1990, cùng thường trú tại ấp V, xã V, huyện U, tỉnh Kiên Giang và Hoàng Văn T3, sinh năm 1999, thường trú tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (chỗ ở ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai) đi 02 xe mô tô chở nhau đến nhà H1. Khi vừa dừng xe mô tô, H2 cầm gậy cao su màu đen, dài khoảng 60cm; Lê Văn Ý cầm 01 con dao tự chế (loại dao phóng lợn), dài 1,48 mét; Hoàng Văn T3 và Nguyễn Văn R không mang theo hung khí bước xuống xe, nhìn thấy H3 đang đứng trước cửa nhà cùng Trình Văn H, sinh năm 2000 (em trai của H3) nên H2 cầm gậy cao su đánh H3 nhưng Hiệp tránh được. Sau đó, Lê Văn Ý cầm dao tự chế chạy đến chém H3 nhưng không trúng mà trúng vào vùng yên xe mô tô của H.

Lúc này, H1, H và H3 cùng giằng co với Ý và H2 để tước đoạt hung khí là dao tự chế trên tay của Ý. Trong quá trình giằng co, H lấy 01 con dao bấm bằng kim loại, màu đen, dài 20cm, mũi dao nhọn (loại dao bấm, được H để trong túi quần từ trước) đâm 01 nhát vào vùng ngực trái và 02 nhát vào vùng lưng của Ý; 01 nhát vào vùng mạng sườn trái và 01 nhát vào hông trái của T3. Nguyễn Văn R đứng ngoài nhìn thấy 02 bên đánh nhau liền đi đến dùng tay phải đấm 02 cái vào người của H thì bị H dùng dao đâm 01 nhát vào vùng bụng. Còn H1 chạy vào bàn ghế đá ở quầy tạp hóa, cách vị trí hai bên giằng co khoảng 04 mét, lấy 01 cây gậy sắt, loại gậy 03 khúc, dài 77cm (loại gậy có thể rút ra, thu vào) đi ra để làm hung khí đánh nhóm của H2 thì thấy Ý, T3, R đã bỏ chạy, chỉ còn H2 đang dùng gậy cao su, màu đen đánh về phía H3 và H. Khi bị H2 đánh, H3 quay người bỏ đi vào nhà thì bị H2 cầm gậy cao su đuổi theo. Thấy vậy, H cầm dao chạy đến đâm 02 nhát vào vùng lưng của H2, còn H1 cầm gậy bằng kim loại chạy ra đánh 01 cái vào đỉnh đầu của H2. Cùng lúc này, H3 giơ con dao tự chế vừa tước được của Ý hướng lên trên định đánh H2 thì thấy H2 đã bị H1 và H đánh gục té xuống đường nên H3 đã thu dao lại rồi đưa dao tự chế vào nhà cất. Sau đó, H2, T3, R và Ý được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ. Do thương tích nặng nên Lê Văn Ý đã tử vong.

Đến 22 giờ cùng ngày, Trình Văn H1, Trình Văn H đã đến Công an xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai đầu thú.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 29/10/2023của Công an tỉnh Đ xác định: Nơi xảy ra vụ án là đoạn đường phía trước nhà Trình Văn H1, thuộc ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Bút lục số 63-64).

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 2387/KL-KTHS ngày 05/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong của Lê Văn Ý như sau:

  • Các kết quả chính: Rách da, cơ ngực trái, rãnh thương hướng từ trước ra sau, hơi chếch từ trái sang phải, dưới lên trên, xuyên vào trong lồng ngực. Tụ máu dưới da, cơ ngực trái, rách khe liên sườn 5-6. Rách, tụ máu mặt trước bao màng ngoài tim. Trong bao màng ngoài tim có nhiều máu loãng lẫn máu cục. Thủng cơ tim thất trái mặt trước.
  • Nguyên nhân tử vong: Sốc mất máu do vết thương ngực trái, thủng cơ tim thất trái.
  • Hung khí: Vật sắc nhọn.
  • Cơ chế hình thành thương tích: Nạn nhân bị tác động trực tiếp bởi vật sắc nhọn vào ngực trái dẫn đến thủng cơ tim, sốc mất máu và tử vong (Bút lục số 83).

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về vật thương tích cho nạn nhân Lê Văn Ý số 0247/KLVGCT-TTPYĐN ngày 09/4/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận như sau: Vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định lưỡi của con dao có thể gây ra thương tích (ngực trái, lưng phải, lưng trái) của nạn nhân Lê Văn Ý (Bút lục số 117-119).

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 1089/KLTTCT-TTPYĐN ngày 22/11/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận tình trạng thương tích của Nguyễn Văn R như sau:

  1. Các kết quả chính:
    • Sẹo vết thương trùng với vết mổ ngực bên bên phải kích thước 15x0,2cm.
    • Sẹo mổ dẫn lưu ngực bên bên phải kích thước 1,5x0,3cm.
    • Sẹo vết thương trùng với vết mổ trên dưới rốn kích thước 10x0,3cm.
    • Sẹo mổ dẫn lưu bụng bên trái kích thước 01x0,3cm.
    • Sẹo mổ bụng trái mổ hỗng tràng nuôi ăn kích thước 1,5x0,5cm.
    • Sẹo mổ dẫn lưu bụng bên phải kích thước 1,3x0,3cm.
    • Vết thương thấu ngực gây tổn thương màng phổi phải đã điều trị để lại dày dính màng phổi phải.
    • Thủng dạ dày 01 lỗ đã phẫu thuật khâu lỗ thủng hiện không biến dạng dạ dày.
  2. Kết luận:
  3. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn R tại thời điểm giám định là 42% (Bốn mươi hai phần trăm).

  4. Kết luận khác:
    • Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn (Bút lục số 104-105).

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 1122/KLTTCT-TTPYĐN ngày 28/11/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận tình trạng thương tích của Lê Thanh H2 như sau:

  1. Các kết quả chính:
    • Sẹo vùng đỉnh đầu bên phải kích thước 07x0,3cm.
    • Sẹo giữa cột sống lưng kích thước 02x0,3cm.
    • Sẹo giữa cột sống lưng kích thước 2,5x0,3cm.
    • Xuất huyết dưới nhện đã điều trị hiện không để lại hình ảnh xuất huyết.
  2. Kết luận:
  3. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Thanh H2 tại thời điểm giám định là 12% (Mười hai phần trăm).

  4. Kết luận khác:
    • Vật gây thương tích:
      • + Thương tích đầu: Vật tày có cạnh.
      • + Thương tích lưng: Vật sắc nhọn (Bút lục số 95-97).

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 1065/KLTTCT-TTPYĐN ngày 14/11/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận tình trạng thương tích của Hoàng Văn T3 như sau:

  1. Các kết quả chính:
    • Sẹo ngực bên bên trái kích thước 0,9x0,2cm.
    • Sẹo hạ sườn trái kích thước 2,8x0,1cm.
  2. Kết luận:
  3. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hoàng Văn T3 tại thời điểm giám định là 02% (Hai phần trăm).

  4. Kết luận khác:
    • Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn (Bút lục số 100-101).

Tại Bản Kết luận giám định của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đối với 07 đoạn video clip được trích xuất trong camera an ninh số 2210/KL-KTHS ngày 14/6/2024 xác định: Không phát hiện thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh trong 07 tập tin video gửi giám định ký hiệu từ A1 đến A7 (Bút lục số 137).

Về trách nhiệm dân sự:

  • Đối với nạn nhân Lê Văn Ý đã chết, đại diện gia đình người bị hại gồm bà Nguyễn Thị L1 (mẹ), ông Lê Thanh H2 (bố) yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 795.000.000 đồng chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và trợ cấp nuôi cháu Lê Ánh T4, sinh năm 2014 (con ruột của anh Ý). Chị Nguyễn Thị L (vợ bị cáo H1) đã thay mặt các bị cáo bồi thường số tiền 60.000.000 đồng.
  • Nguyễn Văn R yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 300.000.000 đồng. Chị Nguyễn Thị L đã bồi thường số tiền 13.000.000 đồng.
  • Lê Thanh H2 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 54.100.000 đồng bao gồm tiền viện phí, ngày công không lao động được, chí phí đi lại và tổn thất về mặt tinh thần. Chị Nguyễn Thị L đã bồi thường cho ông H2 số tiền 15.000.000 đồng.
  • Hoàng Văn T3 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Gia đình bị cáo H1 đã bồi thường số tiền 5.000.000 đồng và T3 đã có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo H, H1. (Bút lục số 393-394; 399-400).

Vật chứng của vụ án bị thu giữ gồm:

  • 01 con dao gấp màu đen dài 20cm, lưỡi bằng kim loại màu đen có 01 bên mài sắc, mũi nhọn, cán dao bằng kim loại màu đen thu giữ của Trình Văn H (Bút lục số 20).
  • 01 gậy cao su, 01 cây kim loại, 01 dao tự chế, 01 đôi dép tổ ong, 01 mũ vải, 01 đôi dép quai kẹp và một số mẫu máu thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường (Bút lục số 63-64).
  • 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu trắng đỏ, biển số 60B8-735.31; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại xe Winner, màu đỏ đen, biển số 60B3-423.38 của nhóm Lê Thanh H2 đi đến hiện trường do bà Nguyễn Thị L giao nộp (Bút lục số 140).
  • 01 quần tây màu đen, 01 áo sơ mi dài tay màu xanh đen, loại sọc ca rô; 01 quần đùi màu xám, 01 áo thun sọc xanh, xám, trắng (loại sọc kẻ ngang), có cổ áo dạng bẻ sang hai bên thu giữ của Trình Văn H và Trình Văn H1 (Bút lục số 479; 525).
  • 01 thẻ nhớ màu đen có ghi chữ Imou, loại 32GB; 01 USB màu xanh đen loại 08GB; 01 USB loại 04GB(Bút lục số 139; 143-144; 174; 186; 193).

Đối với các vật chứng: 01 đôi dép tổ ong; 01 mũ vải; 01 gậy cao su; 01 dao tự chế; 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu trắng đỏ, biển số 60B8-735.31; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại xe Winner, màu đỏ đen, biển số 60B3-423.38 là các công cụ, phương tiện mà nhóm của Lê Thanh H2, Nguyễn Văn R, Lê Văn Ý sử dụng vào việc phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tách vụ án và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để điều tra, xử lý theo thẩm quyền (Bút lục số 06-11).

Tại Bản cáo trạng số 247/CT-VKS-P2 ngày 14/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Trình Văn H, Trình Văn H1 về tội “Giết người” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại bản án hình sự số 175/2025/HS-ST ngày 05/8/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trình Văn H, Trình Văn H1 phạm tội “Giết người”.
  2. Về hình phạt:
    • Áp dụng các điểm a, n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • Xử phạt Bị cáo Trình Văn H 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 10 năm 2023.

    • Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 38, Điều 57, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • Xử phạt Bị cáo Trình Văn H1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 10 năm 2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về việc xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • Ngày 12/8/2025 bị cáo Trình Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Cùng ngày 12/8/2025 bị cáo Trình Văn H1 kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa phúc thẩm xem xét lại tội danh cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;
  • Quan điểm bào chữa của luật sư cho các bị cáo H, H1: cho rằng trong vụ án này, nhóm bị hại có lỗi rất nghiêm trọng, là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo; phía bị cáo có cung cấp thêm tình tiết gia đình có công cách mạng. Nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.
  • Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm - Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo H 17 năm tù và bị cáo H1 07 năm tù là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trình Văn H, Trình Văn H1 hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử, thể hiện: Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 29/10/2023, Lê Thanh H2 cùng với Lê Văn Ý (con trai H2), Nguyễn Văn R và Hoàng Văn T3 mang theo 01 gậy cao su màu đen dài 52cm, 01 dao tự chế dài 1,48m, phần cán dài 1,11m, phần lưỡi dài 37cm đến nhà của Trình Văn H1 tại ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai để giải quyết mâu thuẫn.

Khi hai bên đánh nhau, bị cáo Trình Văn H sử dụng con dao bấm bằng kim loại đâm 01 nhát vào vùng ngực trái và 02 nhát vào vùng lưng của bị hại Lê Văn Ý; 01 nhát vào vùng mạn sườn trái và 01 nhát vào hông trái của Hoàng Văn T3; 01 nhát vào vùng bụng của Nguyễn Văn R. Còn bị cáo Trình Văn H1 cầm gậy bằng kim loại đánh 01 nhát trúng vào đỉnh đầu của Lê Thanh H2.

Theo kết quả giám định: bị hại Lê Văn Ý tử vong do vết thương ngực trái, thủng cơ tim thất trái; Nguyễn Văn R bị vết thương ngực bên phải, thấu ngực, tràn máu màng phổi, vết thương vùng bụng trên rốn, thấu bụng, thủng dạ dày với tỷ lệ thương tật 42%; Lê Thanh H2 bị thương tích vết thương vùng đỉnh đầu, gây xuất huyết khoang dưới nhện, 02 vết thương vùng lưng dài 02cm và 03cm với tỷ lệ thương tật 12%; Hoàng Văn T3 bị thương tích vùng ngực trái với tỷ lệ thương tật 02%.

Với hành vi nêu trên, Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo Trình Văn H phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm a (giết 02 người trở lên) và điểm n (có tính chất côn đồ) khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự (đối với các bị hại Lê Văn Ý, Nguyễn Văn R, Hoàng Văn T3, Lê Thanh H2); bị cáo Trình Văn H1 phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n (có tính chất côn đồ) khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự (đối với bị hại Lê Thanh H2) thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt (Điều 15 Bộ luật hình sự) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trình Văn H, xem xét lại tội danh của bị cáo Trình Văn H1, thấy rằng:

[2.1]. Đối với kháng cáo của bị cáo H1.

Như đã nhận định ở mục [1], hành vi của bị cáo H1 dùng gậy bằng kim loại (là loại hung khí nguy hiểm) đánh vào đỉnh đầu của bị hại Lê Thanh H2 (vùng nguy hiểm dễ gây tử vong) gây xuất huyết khoang dưới nhện, 02 vết thương vùng lưng với tỷ lệ thương tật 12%... là hành vi giết người chưa đạt. Do đó, không có cơ sở để chuyển tội danh sang tội “Cố ý gây thương tích” như đề nghị của Luật sư bào chữa và kháng cáo của bị cáo.

[2.2]. Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo H.

Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng của các bị hại một cách trái pháp luật. Bị cáo H phạm tội có tình tiết định khung giết nhiều người (01 người chết, 03 người bị thương), hành vi mang tính chất côn đồ, xem thường sức khỏe, tính mạng con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự ở địa phương.

Án sơ thẩm đã cân nhắc, xem xét đầy đủ đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo H1 (bị xét xử 7 năm về tội giết người); trong đó có xem xét đến yếu tố lỗi của phía bị hại (gây sự trước) để áp dụng mức hình phạt 17 năm tù đối với bị cáo H, 07 năm tù đối với bị cáo H1 là tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra; đảm bảo tính nghiêm minh, có tác dụng răn đe, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay.

[3]. Các bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới; Do đó, quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp.

[4]. Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo H, H1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trình Văn H và Trình Văn H1;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 175/2025/HS-ST ngày 05/8/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

  1. Về tội danh:
  2. Tuyên bố các bị cáo Trình Văn H, Trình Văn H1 phạm tội “Giết người”.

  3. Về hình phạt:
    • Áp dụng các điểm a, n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • Xử phạt: Bị cáo Trình Văn H 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 10 năm 2023.

    • Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 38, Điều 57, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • Xử phạt: Bị cáo Trình Văn H1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 10 năm 2023.

      Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày đảm bảo thi hành án.

  4. Về án phí:
  5. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Trình Văn H và Trình Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - Viện CT&KSXXPT VKSNDTC tại Tp.HCM (1);
  • - TAND tỉnh Đồng Nai(3b);
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai(1);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Đồng Nai(3);
  • - Công an tỉnh Đồng Nai(1);
  • - THADS tỉnh Đồng Nai(1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP, 18b (NThuy).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 577/2025/HS-PT ngày 20/11/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về giết người

  • Số bản án: 577/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự số 175/2025/HS-ST ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân Đồng Nai.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger