Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 577/2024/DS-PT

Ngày: 29/11/2024

V/v tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Tâm.

Các Thẩm phán:

  1. Bà Lâm Ngọc Tuyền.
  2. Bà Nguyễn Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Ngọc Thư Trúc, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 471/2024/TLPT-DS ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 542/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B (thường gọi Hai N), sinh năm 1951 (có mặt).
  • Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • * Bị đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1976 (thường gọi S) (có mặt).
  • Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang
  • * Người kháng cáo: bị đơn Nguyễn Thị S

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm,

* Tại đơn khởi kiện ngày 24/5/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị B trình bày:

Vào năm 2022, do chỗ bà con quen biết, tin tưởng nhau nên bà có cho bà Nguyễn Thị S vay số tiền 45.000.000 đồng (cho vay làm hai lần: Lần 1 vào ngày 22/11/2022 âm lịch, bà cho bà S vay số tiền là 20.000.000 đồng; lần 2 vào ngày 12/12/2022 âm lịch, bà cho bà S vay số tiền là 25.000.000 đồng), lãi 40.000 đồng/triệu/tháng. Khi vay tiền bà S có viết biên nhận cho bà và ký tên vào. Khi vay bà S nói vay để cho con làm vốn mua bán và có hứa mượn đỡ 01 tháng sau thì bà S sẽ trả lại số tiền trên lại cho bà, nhưng đến nay bà S không trả tiền cho bà như thỏa thuận. Bà đã nhiều lần yêu cầu bà S trả tiền cho bà nhưng bà S cứ hứa hẹn đến nay vẫn không trả tiền cho bà, bà S nói đóng lãi cho bà để bà ăn uống, thuốc men do không có khả năng trả tiền liền cho bà nhưng bà S chỉ đưa tiền lãi được khoảng 4 - 5 tháng thì ngưng, số tiền cụ thể bao nhiêu thì bà không nhớ rõ, có tháng đưa 500.000 đồng, có tháng đưa 1.000.000 đồng cũng có tháng không đưa. Nay bà yêu cầu bà Nguyễn Thị S phải trả cho bà số tiền đã mượn là 45.000.000 đồng, yêu cầu trả 01 lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị S trình bày:

Bà thống nhất có vay bà B số tiền 45.000.000 đồng, vay làm hai lần: Lần 1 vào ngày 22/11/2022 âm lịch, bà vay số tiền là 20.000.000 đồng, lần 2 vào ngày 12/12/2022 âm lịch, bà vay số tiền là 25.000.000 đồng. Khi vay bà có viết biên nhận nợ cho bà B, có thỏa thuận lãi suất là 40.000 đồng/1.000.000 đồng/tháng, 20.000.000 đồng thì mỗi tháng đóng 800.000 đồng; 25.000.000 đồng thì đóng 50.000 đồng/1.000.000 đồng/tháng, mỗi tháng đóng 1.250.000 đồng, tổng cộng 45.000.000 đồng thì từ tháng 12/2023 mỗi tháng đóng lãi là 2.050.000 đồng, bà đóng được 08 tháng, đến tháng 08/2023 thì ngưng không đóng lãi nữa. Khi vay bà có hứa 01 tháng sau sẽ trả lại tiền cho bà B nhưng do làm ăn thua lỗ nên không có khả năng trả nên có xin bà B cho bà nợ lại, bà sẽ đóng lãi cho bà B hàng tháng, bà B cũng đồng ý. Nay bà cũng đồng ý trả cho bà B số tiền là 45.000.000 đồng, nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, làm ăn thua lỗ, còn nợ nhiều người nên không có khả năng trả tiền cho bà B làm một lần, bà xin trả dần số tiền 45.000.000 đồng cho bà B, mỗi tháng bà sẽ trả cho bà B 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Bà không có ý kiến gì đối với số tiền lãi bà đã đóng cho bà B, chỉ xin bà B cho bà được trả dần số nợ do bà còn mắc nợ nhiều người khác nữa.

Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã áp dụng Điều 357, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B.

Buộc bà Nguyễn Thị S có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền 45.000.000 đồng, trả khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

* Ngày 23 tháng 7 năm 2024, bị đơn Nguyễn Thị S kháng yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm, cho bà được trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị S, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn Nguyễn Thị S thực hiện quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyên đơn Nguyễn Thị B có cho bà Nguyễn Thị S vay 02 lần, cụ thể: ngày 22/11/2022 (âm lịch) là 20.000.000 đồng và ngày 12/12/2022 (âm lịch) là 25.000.000 đồng, tổng cộng là 45.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị S có viết biên nhận ngày 12/12/2022 (âm lịch) số tiền 45.000.000 đồng (bút lục 21). Bị đơn Nguyễn Thị S thừa nhận có nợ bà Nguyễn Thị B số tiền 45.000.000 đồng, xác nhận giấy nhận nợ ngày 12/12/2022, là do bà viết và ký tên. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Nguyễn Thị S xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền nợ 45.000.000 đồng, nhưng bà Nguyễn Thị B không đồng ý. Do đó, bản án sơ thẩm buộc bà Nguyễn Thị S cho bà Nguyễn Thị B số tiền 45.000.000 đồng, là có căn cứ, phù hợp Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

[3] Bà Nguyễn Thị S kháng cáo xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị B không đồng ý, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị S.

[4] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang, là có căn cứ.

[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị S phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 463, Điều 466, và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị S có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị S phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 2.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002962 ngày 23/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, nên còn phải nộp 2.250.000 đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - TAND huyện Cai Lậy;
  • - Chi cục THADS huyện Cai Lậy;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • DSPT-2024-Tâm

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Hồng Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 577/2024/DS-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 577/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị B khởi kiện Nguyễn Thị S yêu cầu trả số tiền 45.000.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger