|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 576/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25/7/2024 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Tiên
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Đoàn Văn Rỹ.
- Bà Nguyễn Hồng Dịu
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 213/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 03 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2027, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Châu Tố L, sinh năm 1984;
Địa chỉ thường trú: 8 B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ liên lạc: A C, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Trần Quốc L1, sinh năm 1984 ;
Địa chỉ: 8 B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/01/2024 nộp Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/01/2024 cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ nguyên đơn bà Châu Tố L trình bày:
Bà Châu Tố L và ông Trần Quốc L1 tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 21/11/2013. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến năm 2021 mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do không hợp nhau, không cùng tiếng nói chung đến tháng 6/2023 mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, chồng không quan tâm lo gia đình, bất đồng quan điểm sống nên đã ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay. Bà L đã nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn nhưng muốn cho chồng có cơ hội sửa đổi nên rút đơn khởi kiện để hàn gắn hạnh phúc gia đình cùng nhau nuôi dạy con. Toà án nhân dân Quận 8 ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 1146/2023/QÐST-HNGĐ ngày 26/12/2023. Cuộc sống hôn nhân đến nay vẫn không hạnh phúc, chồng không sửa đổi tật xấu, không quan tâm lo lắng đến vợ con, không có tiếng nói chung. Nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, dù hai bên cố gắng hoà giải đoàn tụ gia đình nhưng không thành, không thể duy trì cuộc hôn nhân, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu Toà án cho bà L được ly hôn với ông Trần Quốc L1.
Về nuôi con chung: Bà L xác định vợ chồng chung sống với nhau có 02 (hai) con chung tên là Trần Lập D, sinh ngày 15/5/2015 và Trần Phương H, sinh ngày 19/6/2021, ngoài ra không còn con chung nào khác. Từ tháng 6/2023 bà L và ông L1 sống ly thân thì hai trẻ sống cùng bà L. Hiện nay hai trẻ đang sống cùng bà L tại địa chỉ A C, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, ông L1 không cấp dưỡng nuôi con từ khi ly thân cho đến nay. Bà L có công việc ổn định tại công ty TNHH V địa chỉ B H, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh mức lương 31.200.000 đồng (Ba mươi mốt triệu hai trăm ngàn đồng), chỗ ở hiện nay là nhà của ba mẹ ruột và bà L cùng con dọn về ở cùng ba mẹ. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) trẻ Trần Lập D và Trần Phương H không yêu cầu ông Trần Quốc L1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với bị đơn ông Trần Quốc L1 đến Tòa án để tự khai, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi yêu cầu khởi kiện của bà Châu Tố L nên Tòa án không thể tiến hành thu thập được lời khai của ông Trần Quốc L1 và không hòa giải được.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn bà Châu Tố L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bà L đã được Toà án giải thích nghĩa vụ của cha mẹ đối với con, việc người trực tiếp nuôi con và nghĩa cấp dưỡng nuôi con, quyền lợi của con trẻ cho bà L rõ theo Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2024. Bà Châu Tố L vẫn bảo lưu ý kiến là bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) trẻ Trần Lập D sinh ngày 15/5/2015 và Trần Phương H, sinh ngày 19/6/2021 không yêu cầu ông Trần Quốc L1 cấp dưỡng nuôi con ; Bị đơn ông Trần Quốc L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi xét xử theo quy định pháp luật tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Châu Tố L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà Châu Tố L.
Bị đơn ông Trần Quốc L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải mà vẫn vắng mặt. Do vậy, theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Quốc L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông Trần Quốc L1 vắng mặt không có lý do. Do vậy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông Trần Quốc L1.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét đơn yêu cầu ly hôn của bà Châu Tố L thì đây là tranh chấp ly hôn theo yêu cầu một bên, do bị đơn ông Trần Quốc L1 hiện cư trú tại Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về các yêu cầu của đương sự:
Xét thấy, bà Châu Tố L và ông Trần Quốc L1 tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 286, quyển số 01/2013 ngày 21/11/2013) nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận phù hợp với Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Châu Tố L cho rằng: Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2021 do không hợp nhau, không cùng tiếng nói chung đến tháng 6/2023 mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, chồng không quan tâm lo gia đình, bất đồng quan điểm sống nên đã ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay. Bà L đã nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn nhưng muốn cho chồng có cơ hội sửa đổi nên rút đơn khởi kiện để hàn gắn hạnh phúc gia đình cùng nhau nuôi dạy con. Toà án nhân dân Quận 8 ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 1146/2023/QÐST-HNGĐ ngày 26/12/2023. Cuộc sống hôn nhân đến nay vẫn không hạnh phúc, chồng không sửa đổi tật xấu, không quan tâm lo lắng đến vợ con, không có tiếng nói chung. Nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, dù hai bên cố gắng hoà giải đoàn tụ gia đình nhưng không thành, không thể duy trì cuộc hôn nhân, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu Toà án cho bà L được ly hôn với ông Trần Quốc L1.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Trần Quốc L1 đến Tòa để trình bày ý kiến tự khai, tạo điều kiện cho vợ chồng hòa giải, hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng ông Trần Quốc L1 vẫn vắng mặt mà không có lý do và cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi yêu cầu khởi kiện của bà Châu Tố L. Điều này thể hiện ông Trần Quốc L1 đã từ bỏ quyền lợi của mình, không còn tha thiết đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trầm trọng trong thời gian dài, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ cần chấp nhận.
Về nuôi con chung: Bà Châu Tố L xác định vợ chồng chung sống với nhau có 02 (hai) con chung tên là Trần Lập D, sinh ngày 15/5/2015 và Trần Phương H, sinh ngày 19/6/2021, ngoài ra không còn con chung nào khác. Từ tháng 6/2023 bà L và ông L1 sống ly thân thì hai trẻ sống cùng bà L. Hiện nay hai trẻ đang sống cùng bà L tại địa chỉ A C, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, ông L1 không cấp dưỡng nuôi con từ khi ly thân cho đến nay. Bà L có công việc ổn định tại công ty TNHH V địa chỉ B H, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh mức lương 31.200.000 đồng (Ba mươi mốt triệu hai trăm ngàn đồng), chỗ ở hiện nay là nhà của ba mẹ ruột và bà L cùng con dọn về ở cùng ba mẹ. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) trẻ Trần Lập D và Trần Phương H không yêu cầu ông Trần Quốc L1 cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con trẻ, trẻ tên Trần Lập D, sinh ngày 15/5/2015 và Trần Phương H, sinh ngày 19/6/2021, hiện đang sinh sống cùng bà Châu Tố L tại địa chỉ A C, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, ông L1 không cấp dưỡng nuôi con từ khi ly thân cho đến nay Bản tự khai ngày 03/5/2024 của trẻ Trần Lập D có nguyện vọng được sống với mẹ là bà Châu Tố L. Bà L sau khi đã được Toà án giải thích nghĩa vụ của cha mẹ đối với con, việc người trực tiếp nuôi con và nghĩa cấp dưỡng nuôi con, quyền lợi của con trẻ cho bà L rõ theo Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2024. Bà Châu Tố L vẫn bảo lưu ý kiến là bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) trẻ Trần Lập D sinh ngày 15/5/2015 và Trần Phương H, sinh ngày 19/6/2021 không yêu cầu ông Trần Quốc L1 cấp dưỡng nuôi con. Để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con chung, việc giao con chung cho bà Châu Tố L tiếp tục nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông Trần Quốc L1 cho đến khi bà Châu Tố L có yêu cầu là phù hợp. Ông Trần Quốc L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai có quyền ngăn cản quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và Gia đình. Nếu sau khi ly hôn bà Châu Tố L và ông Trần Quốc L1 có yêu cầu tranh chấp về người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con thì giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
Về tài sản chung: Bà Châu Tố L xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà Châu Tố L xác định vợ chồng không có khoản nợ chung nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
- -Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Châu Tố L về việc xin ly hôn với ông Trần Quốc L1.
- - Về hôn nhân: Bà Châu Tố L được ly hôn với ông Trần Quốc L1 (theo giấy chứng nhận kết hôn số 286, quyển số: 01/2013 của Ủy ban nhân dân Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/11/2013).
- - Về nuôi con chung: Giao 02 (hai) con chung tên là Trần Lập D, sinh ngày 15/5/2015 và Trần Phương H, sinh ngày 19/6/2021 cho bà Châu Tố L trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng cho con đối với ông Trần Quốc L1 cho đến khi bà L có yêu cầu.
- Người không trực tiếp nuôi con được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Bà Châu Tố L xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Bà Châu Tố L xác định vợ chồng không có khoản nợ chung nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Châu Tố L phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0036791 ngày 15/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Về Q kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Mỹ Tiên |
Bản án số 576/2023/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 576/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Châu Tố Liễu yêu cầu ly hôn ông Trần Quốc Lương
