TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 576/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-8-2024
Về việc tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trương Thị Đạt;
- Ông Nguyễn Như Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chính Việt Phương– Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 293/2024/HNST ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 302/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 224/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Bà Hà Phương T.
Địa chỉ: Số A ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
2/ Bị đơn: Ông Đoàn Ngọc S.
Địa chỉ: Số H đường H, khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hà Phương T trình bày và yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Qua thời gian tìm hiều, bà Hà Phương T và ông Đoàn Ngọc S đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 082/2016 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre cấp ngày 24/10/2016.
Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, giữa chúng tôi phát sinh nhiều mâu thuẫn, nhiều lần tự thoả thuận với nhau nhưng không giải quyết được. Mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
2
Nay để ổn định cuộc sống riêng tư tôi yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Đoàn Ngọc S.
Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là trẻ Đoàn Nguyên P sinh ngày 14/7/2018 và trẻ Đoàn Nguyên An sinh ngày 24/7/2021. Sau khi ly hôn tôi đề nghị được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu ông Đoàn Ngọc S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết
Về nợ chung: Xác nhận không có.
Bị đơn Ông Đoàn Ngọc S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Qua thời gian tìm hiều, chúng đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 082/2016 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre cấp ngày 24/10/2016. Trong quá trình chung sống cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn về quan điểm sống, quản lý chi tiêu về tài chính, thường xuyên cãi vã. Mặc dù cả hai hàn gắn nhưng không được, mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay để ổn định cuộc sống bà Hà Phương T yêu cầu được ly hôn thì ông Đoàn Ngọc S đồng ý.
- Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là trẻ Đoàn Nguyên P sinh ngày 14/7/2018 và trẻ Đoàn Nguyên An sinh ngày 24/7/2021. Sau khi ly hôn tôi đề nghị được nuôi con chung là trẻ Đoàn Nguyên P sinh ngày 14/7/2018 và không yêu cầu bà Hà Phương T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Xác nhận không có nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Hà Phương T yêu cầu được ly hôn với ông Đoàn Ngọc S nên đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn ông Đoàn Ngọc S cư trú tại Quận G Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Đoàn Ngọc S đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
3
[3] Bà Hà Phương T và ông Đoàn Ngọc S tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 082/2016 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre cấp ngày 24/10/2016) nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp; vì vậy được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời trình bày của đương sự cho thấy quan hệ hôn nhân của bà Hà Phương T và ông Đoàn Ngọc S chỉ ràng buộc về mặt pháp lý, cả hai không còn tình cảm với nhau, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu ly hôn của bà Hà Phương T là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về con chung:
[5.1] Căn cứ Giấy khai sinh số 399 đăng ký ngày 30/11/2018 và Giấy khai sinh số 327 đăng ký ngày 29/11/2021 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G Thành phố hồ Chí Minh cùng với lời trình bày của đương sự đủ cơ sở để khẳng định bà Hà Phương T và ông Đoàn Ngọc S có Có 02 (Hai) con chung là trẻ Đoàn Nguyên P sinh ngày 14/7/2018 và trẻ Đoàn Nguyên An sinh ngày 24/7/2021.
[5.2] Hội đồng xét xử xét thấy, theo lời trình bày của bà Hà Phương T và ông Đoàn Ngọc S cả hai đều yêu cầu được là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên ông Đoàn Ngọc S không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh về việc ông Đoàn Ngọc S có điều kiện nuôi dạy con tốt hơn. Mặc khác hiện tại cả hai trẻ đều sống chung với bà Hà Phương T, để đảm bảo cho trẻ phát triển lành mạnh, hài hòa về thể chất và tinh thần, ổn định môi trường sống và học tập nên yêu cầu được nuôi con chung của bà Hà Phương T là có cơ sở để chấp nhận.
[5.3] Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung là trẻ Đoàn Nguyên P sinh ngày 14/7/2018 và trẻ Đoàn Nguyên An sinh ngày 24/7/2021 cho bà Hà Phương T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Hà Phương T tự nguyện không yêu cầu ông Đoàn Ngọc S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về tài sản chung: Bà Hà Phương T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[8] Về nợ chung: Bà Hà Phương T xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.
[9] Về án phí: Bà Hà Phương T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
4
- Áp dụng các điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Phương T được ly hôn với ông Đoàn Ngọc S (Giấy chứng nhận kết hôn số 082/2016 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre cấp ngày 24/10/2016).
- Về con chung:
Bà Hà Phương T và ông Đoàn Ngọc S có 02 (Hai) con chung là trẻ Đoàn Nguyên P sinh ngày 14/7/2018 và trẻ Đoàn Nguyên An sinh ngày 24/7/2021. Sau khi ly hôn giao cả 02 (Hai) con chung là trẻ Đoàn Nguyên P sinh ngày 14/7/2018 và trẻ Đoàn Nguyên An sinh ngày 24/7/2021 cho bà Hà Phương T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đoàn Ngọc S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Đoàn Ngọc S có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản.
Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bà Hà Phương T phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23P số 0019203 ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Hà Phương T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- Về quyền kháng cáo: Bà Hà Phương T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm) kể từ ngày tuyên án, Ông Đoàn Ngọc S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm) kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.
5
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Viết Bình |
Bản án số 576/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 576/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T tranh chấp ly hôn với ông S
