TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 576/2024/HS- PT Ngày: 16- 7- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Năng Thành
Các Thẩm phán: ông Hoàng Nhật Tân và ông Nguyễn Ngọc Huân
- Thư ký phiên toà: ông Đỗ Duy Trung- Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Thu Hương- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 472/2024/TLPT- HS ngày 03 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo Hoàng Nhật L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS- ST ngày 23/4/2024 của Toà án nhân dân quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.
* Bị cáo kháng cáo: Hoàng Nhật L; sinh năm 1985, tại Hà Nội; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: số A ngõ E T, phường B, T, Hà Nội; nơi ở khi phạm tội: số A B, phường K, T, Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Hoàng Trung C và bà Nguyễn Ánh T; gia đình có 03 anh em (bị cáo là con thứ nhất); có vợ là Nguyễn Thị H (sinh năm 1991) và có 02 con (sinh năm 2013 và 2015); chưa có tiền án, tiền sự; đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/3/2023, tại trại tạm giam số 1- Công an Thành phố H; số giam: 3611/Buồng 22; có mặt.
* Người bị hại: anh Đặng Đình P; sinh năm 1985; HKTT: thôn T, xã B, Y, Thanh Hóa; nơi ở: số E ngõ B X, phường X, T, Hà Nội; có đơn xin vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Nguyễn Tiến H1; sinh năm 1993; địa chỉ: khu D, xã P, Đ, Phú Thọ; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cùng là lái xe ô tô công nghệ nên Hoàng Nhật L quen anh Đặng Đình P và biết anh P có chiếc xe ô tô Toyota Vios (BKS: 30E- ...); Hoàng Nhật L nảy sinh ý định đưa ra các thông tin gian dối để mượn xe ô tô của anh P, mang đi cầm cố, lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân. Ngày 09/02/2023, L gọi điện cho anh P hỏi mượn xe ô tô để đi về quê vợ và anh P đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, L đi xe mô tô Honda Blade (BKS: ...) đến gặp anh P trước số nhà D L (phường X, T), anh P giao cho L mượn xe ô tô Toyota Vios (BKS: ...) cùng giấy tờ xe đứng tên Đặng Thị P1; L để lại xe máy Honda Blade để anh P có phương tiện đi lại và hứa trong 03 ngày sẽ trả lại xe ô tô.
Hoàng Nhật L lên mạng xã hội tìm người để cầm cố xe ô tô và biết nếu muốn cầm cố được xe ô tô mà không có giấy tờ chính chủ (giấy tờ xe không mang tên L) thì phải có Hợp đồng mua bán xe ô tô có công chứng. Vì vậy, khoảng 14 giờ ngày 10/02/2023, L lên mạng xã hội tìm thuê người làm giả Hợp đồng mua bán xe ô tô và có người nhận lời với giá là 1.500.000 đồng; L đã cung cấp các thông tin cá nhân của L, thông tin về người đăng ký xe là bà Đặng Thị P1, chồng bà P1 là ông Hoàng Trường G và đăng ký xe ô tô Toyota Vios BKS: 30E-991.18. Khoảng 15 giờ cùng ngày, L nhận được từ một người lái xe mô tô G1 01 Hợp đồng mua bán xe ô tô số CC: 242, quyển số 12/2022 TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C2 (trụ sở: số B đường N, phường C, B, Hà Nội). Hợp đồng có ghi thông tin bên bán là ông Hoàng Trường G và bà Đặng Thị P1, bên mua là Hoàng Nhật L; cuối của Hợp đồng đã có chữ ký đứng tên ông G, bà P1, Công chứng viên Nguyễn Thị Hồng V và dấu của Văn phòng công chứng nhưng chưa có chữ ký của người mua; L trả người lái xe G1 là 1.7000.000 đồng, gồm 1.500.000 đồng làm tài liệu giả và 200.000 đồng tiền công vận chuyển.
Sau đó, L tự ký vào phần bên mua trong Hợp đồng và liên hệ được với anh Nguyễn Tiến H1 để trao đổi cầm cố xe ô tô. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày 10/02/2023, L gặp anh H1 tại khu vực cổng chính của Công viên C (phường D, Cầu G); anh H1 xem xe, giấy tờ và thỏa thuận miệng sẽ cầm cố xe là 150.000.000 đồng, lãi suất là 2.500 đồng/01 ngày/01 triệu đồng, 10 ngày trả lãi 01 lần, tiền gửi xe là 50.000 đồng/ngày và L phải trả trước tiền lãi, tiền gửi xe của 10 ngày. Sau khi thoả thuận, L viết giấy bán xe, giao xe và toàn bộ giấy tờ xe cho anh H1; anh H1 nhờ anh Lê Hữu M (sinh năm 1992; trú tại: V, B, Hà Nội) chuyển khoản 145.750.000 đồng vào tài khoản của L; khoảng 20 giờ 31 phút cùng ngày, anh M dùng tài khoản số 7049 ... tại ngân hàng V1 chuyển đủ tiền cho L theo yêu cầu. Sau khi nhận được tiền, L chuyển tiền trả nợ cho nhiều người và có chuyển cho anh P là 2.000.000 đồng vào ngày 11/02/2023 để anh P tin tưởng việc đã cho mượn xe.
Ngày 14/02/2023, L hẹn và gặp anh P tại đầu ngõ D L, thừa nhận đã mang xe ô tô đi cầm cố và đề nghị cho 01 tháng để chuộc lại xe về trả lại; anh P không đồng ý và ngày 16/02/2023 (bút lục 82), anh P đến Công an phường X trình báo; ngày 03/3/2023 (bút lục 74), Hoàng Nhật L đến Công an quận T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Anh Đặng Đình P đã giao nộp cho Cơ quan điều tra: các tin nhắn giữa anh P và L; ảnh chân dung của Hoàng Nhật L; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu đen BKS: ....
Cơ quan điều tra tạm giữ của Hoàng Nhật L: 01 điện thoại Blackberry màu đen; Giấy mua xe máy Honda Blade (BKS: ...); Giấy xác nhận lưu giữ đăng ký xe mô tô Honda Blade (BKS: ...) của Công ty Cổ phần T2; và 01 giấy bán xe ghi ngày 16/7/2022.
Ngày 03/3/2023, anh Nguyễn Tiến H1 đến Cơ quan điều tra giao nộp: Xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios (BKS: ...); Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 410... đứng tên bà Đặng Thị P1 là chủ xe; Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô BKS: ...; Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô BKS: ...; 01 Hợp đồng mua bán xe ô tô số CC: 242, quyển số 12/2022 TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C2 ghi ngày 26/12/2022; Giấy bán xe giữa Hoàng Nhật L và anh Nguyễn Tiến H1; các bản photo có công chứng gồm: 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Trường G, 01 căn cước công dân mang tên Đặng Thị P1 và 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Nhật L.
Tại Kết luận định giá số 41 ngày 03/3/2023 (bút lục 148) kết luận: Chiếc xe ô tô Toyota Vios, BKS: ..., có trị giá là 350.000.000 đồng.
Kết quả xác minh xác định: Xe ô tô Toyota Vios (BKS: ...) có số máy 2NRX241608 và số khung RL4B29F33H5027203 là số nguyên thuỷ, đứng tên đăng ký là bà Đặng Thị P1 (sinh năm 1987; HKTT: số E ngách A G, phường C, Đ, Hà Nội, chỗ ở: số B L, phường X, T, Hà Nội). Bà Đặng Thị P1 khai nhận em trai bà P1 là Đặng Đình P đã mua chiếc xe ô tô này và bà P1 chỉ đứng tên đăng ký hộ. Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại chiếc xe ô tô Toyota Vios (BKS: ...) cùng giấy tờ của xe cho anh P (bút lục 88, 88a); gia đình Hoàng Nhật L đã bồi thường cho anh P là 10.000.000 đồng; anh P đã nhận lại tài sản và nhận bồi thường thiệt hại (bút lục 89), không có yêu cầu gì về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Hoàng Nhật L.
Tại Kết luận giám định số 3329 ngày 29/5/2023, Phòng K- Công an Thành phố H kết luận (bút lục 99): Chữ ký và chữ viết trong Giấy bán xe, Hợp đồng mua bán xe ô tô, Hợp đồng mua bán xe ô tô là chữ ký chữ viết của Hoàng Nhật L. Chữ viết dòng họ tên trong Hợp đồng mua bán xe ô tô số công chứng: 242- Văn phòng C2, bên bán (bên A): Hoàng Trường G và Đặng Thị P1, bên mua (bên B): Hoàng Nhật L, đề ngày 26/12/2022 không phải là của Đặng Thị P1. Không đủ cơ sở để kết luận chữ ký đứng tên Đặng Thị P1 trong các văn bản trên là chữ ký của chị Đặng Thị P1. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Nguyễn Thị Hồng V trên các mẫu giám định với mẫu so sách có phải của cùng một người ký ra hay không? Hình dấu tròn “VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG HỒNG VÂN” trên các mẫu giám định với hình dấu tròn trên mẫu so sánh không phải do một con dấu đóng ra.
Xác minh tại Văn phòng Công chứng: bà Nguyễn Thị Hồng V (Trưởng văn phòng C2) xác định Hợp đồng mua bán xe ô tô số CC: 242, quyển số 12/2022-TP/CC-SCC/HĐGD và Bản sao y căn cước công dân mang tên Đặng Thị P1, Hoàng Trường G không phải do Văn phòng công chứng Nguyễn Hồng V cung cấp ra.
Đối với đối tượng đã Làm giả hợp đồng mua bán xe ô tô của Văn phòng C2: do Hoàng Nhật L liên hệ trên mạng xã hội để thuê làm tài liệu giả nên L không biết tên, tuổi và địa chỉ của đối tượng này; vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ và xử lý.
Đối với Nguyễn Tiến H1 và Lê Hữu M: đều không biết xe ô tô do Hoàng Nhật L cầm cố là tài sản bất hợp pháp; sau khi biết sự việc, anh H1 đã giao nộp xe ô tô để trả lại người bị hại; do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Nguyễn Tiến H1 và anh Lê Hữu M. Anh H1 yêu cầu L phải trả lại anh H1 số tiền 145.750.000 đồng đã giao cho L.
Đối với chiếc xe máy Honda Blade màu đen (BKS: ...): kết quả xác minh xác định xe có số khung, số máy là số nguyên thuỷ và xe không có trong dữ liệu xe máy vật chứng, người đứng tên đăng ký là ông Trương Công L1 (sinh năm 1972; trú tại: số B ngõ B N, tổ dân phố T, thị trấn T, G, Hà Nội). Ông L1 khai nhận có mua và đăng ký xe máy này, đã bán xe cho người tên C1 (số B, Ngô Xuân Q, tổ dân phố T, thị trấn T, G) vào năm 2022; xác minh xác định không có người tên C1 ở địa chỉ nêu trên. Hoàng Nhật L khai nhận mua xe của anh Nguyễn Tiến M1 (sinh năm 1995; trú tại: số F đường L, phường L, Đ, Hà Nội); anh M1 khai nhận có mua xe tại một cửa hàng ở G và bán lại cho Hoàng Nhật L.
Đối với số tiền đã nhận từ của anh H1: L đã chuyển tiền cho anh P 2.000.000 đồng; số tiền còn lại thì L chuyến khoản trả nợ cho nhiều người, trong đó có Đỗ Thị Thu H2 và Đặng Anh T1; những người khác thì L không nhớ tên và tài khoản ngân hàng.
Sao kê tài khoản số 190 ... của Hoàng Nhật L tại ngân hàng T3 (bút lục B-304) xác định: Ngày 10/02/2023, tài khoản số 7049 ... mang tên LE HUU MANH tại ngân hàng V1 chuyển 145.750.000 đồng vào tài khoản của L; ngày 11/02/2023, L chuyển 2.000.000 đồng vào tài khoản của anh Đặng Đình P tại ngân hàng B; ngày 10/02/2023, L chuyển vào tài khoản số 0011 ... tại ngân hàng V1 của Đặng Anh T1 là 21.000.000 đồng; ngày 11/02/2023, L chuyển tiền vào tài khoản số 1903 ... tại ngân hàng T3 của Đỗ Thị Thu H2 là 120.000.000 đồng.
Kết quả điều tra xác định: Đặng Anh T1 có hộ khẩu thường trú tại số A ngách E T (phường B, quận T) và chỗ ở tại số A ngõ D X (phường X, quận B) nhưng hiện nay, T1 đã chuyển đi nơi khác và không biết đang ở đâu; Đỗ Thị Thu H2 có hộ khẩu thường trú tại phường C và chỗ ở tại phường V, cùng thành phố L nhưng đều không có mặt tại các địa chỉ trên. Vì vậy, Cơ quan điều tra không làm rõ được các đối tượng này để xử lý và thu hồi tài sản.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS- ST ngày 23/4/2024, Toà án nhân dân quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Nhật L phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, khoản 1 Điều 341, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Nhật L 09 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, 06 tháng tù về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (chín) năm, 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/3/2023.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/5/2024, bị cáo Hoàng Nhật L có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phân tích về nội dung vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa Bản án sơ thẩm và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo về tội danh Lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, khoản 1 Điều 341, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38 và 55 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Nhật L từ 07 năm đến 07 năm, 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, 06 tháng tù về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội từ 07 năm, 06 tháng đến 08 năm tù; Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Nhật L phù hợp các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận của bị cáo Hoàng Nhật L tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm, lời khai của người bị hại, đương sự và người làm chứng, phù hợp các vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án- Đủ cơ sở kết luận: do cần tiền chi tiêu cá nhân nên ngày 10/02/2023 (tại khu vực trước nhà số D L, phường X, quận T, Thành phố Hà Nội), Hoàng Nhật L đã đưa ra thông tin gian dối (mượn xe ô tô để đi về quê) nhằm chiếm đoạt chiếc xe ô tô Toyota Vios (biển kiểm soát: ... trị giá là 350.000.000 đồng) của anh Đặng Đình P; L thuê đối tượng khác (không quen biết) trên mạng xã hội làm giả hợp đồng mua bán xe ô tô của Văn phòng C2 (đứng tên người mua xe là Hoàng Nhật L) rồi cầm cố xe ô tô đã chiếm đoạt cho anh Nguyễn Tiến H1 để nhận 145.750.000 đồng và chi tiêu hết cho cá nhân; hành vi của Hoàng Nhật L đã phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 và khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự; Bản án sơ thẩm đã quy kết bị cáo Hoàng Nhật L theo các tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Nhật L thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân, đúng như quy kết của Bản án sơ thẩm, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
[3] Bị cáo Hoàng Nhật L phạm tội độc lập và không có đồng phạm, không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “đầu thú” và “người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đã được Bản án sơ thẩm xem xét, áp dụng đối với bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự Nguyễn Tiến H1 khai nhận đã được bị cáo và gia đình bồi thường và hoàn trả đủ 145.750.000 đồng theo quyết định của Bản án sơ thẩm; vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo L theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ các tài liệu do gia đình bị cáo giao nộp và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử áp dụng bổ sung các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo về việc “bị cáo có nhân thân tốt”, “bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia Quân đội bảo vệ Tổ Quốc” và “gia đình bị cáo là gia đình có công với Cách Mạng” theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, trị giá tài sản chiếm đoạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo để xử phạt bị cáo Hoàng Nhật L 09 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 06 tháng tù về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo được áp dụng bổ sung các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận một phần quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội trình bày tại phiên tòa phúc thẩm, sửa Bản án sơ thẩm và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo về tội danh Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử ghi nhận lời khai và quan điểm của đương sự Nguyễn Tiến H1 trình bày tại phiên tòa phúc thẩm về việc anh H1 đã nhận bồi thường và hoàn trả số tiền do anh H1 đã giao cho bị cáo Hoàng Nhật L.
[6] Yêu cầu kháng cáo được chấp nhận và Cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm nên bị cáo Hoàng Nhật L không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.
[7] Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
- Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS- ST ngày 23/4/2024 của Toà án nhân dân quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội đối với bị cáo Hoàng Nhật L:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, khoản 1 Điều 341, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38 và 55 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Nhật L 08 (tám) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 06 (sáu) tháng tù về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Hoàng Nhật L phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 09 (chín) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/3/2023.
- Bị cáo Hoàng Nhật L không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xác nhận: bị cáo Hoàng Nhật L và gia đình bị cáo đã bồi thường và hoàn trả anh Nguyễn Tiến H1 là 145.750.000 đồng để chấp hành quyết định của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM NĂNG THÀNH |
Bản án số 576/2024/HS- PT ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự
- Số bản án: 576/2024/HS- PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Nhật L phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
