Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 576/2025/HS-PT

Ngày: 19 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh

Các Thẩm phán: Ông Thái Duy Nhiệm và ông Phùng Hải Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Ly - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 376/2025/TLPT-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Viết V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2025/HS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Viết V, sinh ngày 10/12/1964 tại Nghệ An; nơi cư trú: Xóm K, xã N, huyện N, tịnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết T và bà Hoàng Thị K (đều đã chết); có vợ Nguyễn Thị K1 và 03 con: Lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 18/10/2024 đến ngày 27/10/2024 được tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”. (vắng mặt)

Ngoài ra trong vụ án còn có 03 bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Đức P, sinh năm 1983; trú tại: Khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An là lái xe tải thuê, vận chuyển hải sản từ miền N ra B nên quen biết Lê Văn D, sinh năm 1988; trú tại: Â, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước là người sinh sống gần khu vực cửa khẩu quốc tế H4 thuộc huyện L, tỉnh Bình Phước. Vào khoảng tháng 08/2024, P hỏi D có thể cung cấp pháo nổ cho P không thì D nói để tìm mua và thông báo lại sau. Sau khi được P đặt vấn đề mua pháo, D đi qua cửa khẩu quốc tế H4 để tìm hỏi mua pháo nổ thì gặp một người đàn ông nước Campuchia (không rõ họ tên, địa chỉ) đồng ý bán pháo nổ cho D, loại 36 quả giá 370.000 đồng, loại 49 quả giá 470.000 đồng và giao pháo tại Việt Nam, D đồng ý, lấy số điện thoại của người này để liên lạc. Sau khi tìm được người cung cấp pháo, D nói với P và thống nhất bán pháo cho P, 01 khối pháo nổ loại 36 quả giá 550.000 đồng, 01 khối pháo nổ loại 49 quả giá 650.000 đồng. Do có quen biết nhau từ trước nên P nói chuyện, chào bán pháo cho Nguyễn Quang N, sinh năm 1973; trú tại: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An 01 khối pháo nổ loại 36 quả giá 650.000 đồng, N đồng ý và nói lúc nào có pháo thì đưa về bán cho N.

Vào sáng ngày 26/9/2024, P gọi điện cho N hỏi lấy bao nhiêu pháo, Nam đặt mua 11 khối pháo loại 36 quả. Sau đó, P sử dụng tài khoản Zalo được đăng ký bằng số điện thoại 0981.078.xxx gọi cho D (tài khoản Zalo “Duẩn XỐP TÔM BD”, đăng ký bằng số điện thoại 0966.659.xxx) đặt mua 11 khối pháo nổ loại 36 quả cho N và thống nhất hôm sau giao nhận pháo tại khu vực gần Trạm thu phí cầu P, thuộc quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi P đặt mua pháo, D gọi điện hẹn gặp người đàn ông Campuchia để đặt mua 11 khối pháo và hẹn sáng hôm sau giao pháo tại một vườn cao su thuộc huyện L, tỉnh Bình Phước (không nhớ rõ địa chỉ) và đưa 4.070.000 đồng để đặt mua pháo. Khoảng 05h30 phút sáng ngày 27/9/2024, theo hướng dẫn của D, người đàn ông người Campuchia chở 01 thùng xốp bên trong chứa 11 khối pháo nổ đến giao cho D tại khu vực vườn cao su, D nhận pháo rồi thuê xe taxi chở số pháo trên đến khu vực gần Trạm thu phí cầu P để giao cho P.

Đến chiều cùng ngày, trong quá trình điều khiển xe ô tô tải mang biển kiểm soát (viết tắt là BKS) 18C-16654 (xe ô tải này do P cùng anh C lái thuê cho anh Cao Nguyễn T1 để đi vận chuyển tôm từ miền N ra B), P nói với anh C ghé vào bốc thùng hải sản khô đưa về cho khách. P lái xe đến khu vực gần Trạm thu phí cầu P gặp D nhận 01 thùng xốp bên trong chứa 11 khối pháo nổ chở về Nghệ An. Đến chiều ngày 28/9/2024, P lái xe về đến trước hiệu thuốc của chị Lê Thị Bé M (là vợ của P) tại khối T, phường V, thành phố V rồi bốc thùng xốp để trước hiệu thuốc. P gọi điện cho N để hẹn giao pháo thì N và P thống nhất giao pháo tại khu vực ngã 3 N, thuộc xã N, huyện N. Khoảng 18 giờ cùng ngày, P thuê xe taxi chở thùng xốp chứa 11 khối pháo trên đến bán cho N tại ngã 3 N như đã hẹn. N nhận 11 khối pháo đưa về nhà cất dấu trong nhà rồi quay lại trả cho P số tiền 7.150.000 đồng. Tối cùng ngày, P chuyển khoản cho D số tiền 74.600.000 đồng, trong đó 6.050.000 đồng là trả tiền mua 11 khối pháo và số tiền còn lại là tiền trả nợ trước đây P vay của D.

Sau khi mua 11 khối pháo của P, tối cùng ngày N lấy 08 khối pháo nổ đóng vào thùng cát tôn rồi mượn xe máy của một người đến nhà N chơi (Nam không nhớ là ai) chở số pháo trên đến bán cho Nguyễn Viết V 08 khối pháo nổ loại 36 quả với giá 800.000 đồng/1 khối, V nhận pháo rồi thanh toán cho N bằng tiền mặt, N đã giảm cho V 200.000 đồng nên V đưa cho N số tiền 6.200.000 đồng. Sau khi mua số pháo trên, V cất giữ trong nhà để sử dụng vào dịp Tết. Tuy nhiên, khi V nói chuyện với Nguyễn Viết Q, Hoàng Mạnh H và Nguyễn Viết H1 về việc mình có mua 08 khối pháo về để sử dụng vào dịp Tết thì Q, H và H1 nói là họ cũng có nhu cầu sử dụng pháo để nổ dịp Tết. Do quen biết và có quan hệ họ hàng nên V đã lấy số pháo mua được cho H 02 khối, cho H1 02 khối và cho Q 01 khối để những người này sử dụng nhưng không lấy tiền. Còn lại 03 khối thì V cất giấu trong nhà để sử dụng. Sau khi bán pháo cho V xong, N quay về nhà lấy 03 khối pháo còn lại đi bộ mang đến gần Nhà văn hóa xóm A (cũ), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An bán cho Hoàng Khắc Đ với giá 800.000 đồng/1 khối, Đ nhận 03 khối pháo rồi đưa về cất giấu tại nhà để sử dụng. Sau khi nhận được pháo thì Đ đã chuyển khoản cho N số tiền 2.400.000 đồng.

Đến sáng ngày 11/10/2024, P tiếp tục gọi điện thoại nói với N là chuẩn bị đi lấy pháo và hỏi N muốn lấy khối lượng bao nhiêu thì N đặt mua của P 50 khối pháo loại 36 quả. Chiều ngày 12/10/2024, P liên lạc với D để đặt mua 156 khối pháo loại 36 quả (trong đó có 50 khối pháo loại 36 quả cho N) và 05 khối pháo loại 49 quả, D đồng ý, P yêu cầu D đóng số pháo trên vào 04 thùng xốp. Sau đó, P sử dụng tài khoản 98379799999 thuộc ngân hàng M1 chuyển khoản số tiền 67.000.000 đồng vào tài khoản 050112552291 thuộc ngân hàng S cho D để đặt cọc mua pháo. Sau đó, D đã liên hệ người đàn ông Campuchia để đặt mua pháo theo yêu câu của P. Sáng ngày 16/10/2024, D nhận pháo từ người đàn ông Campuchia tại khu vực vườn cao su thuộc huyện L, tỉnh Bình Phước và đưa cho người này 60.070.000 đồng để trả tiền mua pháo. Duẩn thuê 01 xe tải chở 04 thùng pháo đó đi giao cho D. Đến chiều cùng ngày, trên đường lái xe thuê từ tỉnh Bến Tre đi ra B, khi đi P qua thành phố Hồ Chí Minh thì đến khu vực cầu P để nhận 04 thùng xốp, bên trong chứa các khối pháo nổ như đã đặt từ Duẩn rồi chở về Nghệ An. Khi nhận pháo, D đã nói với P có 02 thùng xốp lớn hơn, trong mỗi thùng chứa 52 khối pháo loại 36 quả. Trên đường về, P gọi điện cho N để nói hiện tại đang có 104 khối pháo loại 36 quả và nói N mua hết cho P (là số pháo trong 02 thùng xốp lớn hơn mà D đã nói với P) nhưng N trả lời chỉ mua 50 khối pháo loại 36 quả như đã đặt trước đó, số còn lại nếu P không bán được thì đưa về nhà N cất giúp, lúc nào P tìm được người mua thì đến lấy. Đến chiều ngày 17/10/2024, P chở 04 thùng pháo về để trước hiệu thuốc của nhà P tại khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Đến 19 giờ 00 phút cùng ngày, khi P đang bốc pháo lên chiếc xe tải mang BKS 37H-055.64 do P thuê của anh Nguyễn Xuân H2 để chở pháo đi giao cho N (anh H2 không biết bên trong 04 thùng xốp chứa pháo) thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 02 thùng xốp mỗi thùng chứa 52 khối loại 36 quả; 01 thùng xốp chứa 24 khối pháo loại 36 quả và 05 khối pháo loại 49 quả cùng 01 thùng xốp chứa 28 khối pháo loại 36 quả.

Ngày 18/10/2024 và ngày 20/10/2024, Nguyễn Quang N, Nguyễn Viết V cùng Lê Văn D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đầu thú.

Ngày 18/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã thành lập Hội đồng để tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định theo quy định pháp luật. Kết quả như sau:

  • Tổng khối lượng 161 khối pháo nổ thu giữ của Đặng Đức P: 213,33kg.
  • Tổng khối lượng 03 khối pháo thu giữ của Nguyễn Viết V: 3,51kg.
  • Tổng khối lượng 02 khối pháo thu giữ Hoàng Mạnh H: 2,35kg.
  • Khối lượng 01 khối pháo thu giữ của Nguyễn Viết Q: 1,18kg.
  • Tổng khối lượng 02 khối pháo thu giữ của Nguyễn Viết H1: 2,33kg.
  • Tổng khối lượng 03 khối pháo thu giữ của Hoàng Khắc Đ: 3,6kg.

Kết luận giám định số 372/KL-KTHS ngày 25/10/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh N, kêt luận: Các mẫu vật thu giữ của Đặng Đức P, Nguyễn Viết V, Hoàng Khắc Đ, Nguyễn Viết Q, Nguyễn Viết H1, Hoàng Mạnh H gửi đi giám định đều là pháo, thuộc loại pháo nổ.

Vật chứng thu giữ của vụ án gồm:

  • 01 (một) thùng xốp bên ngoài dán băng dán màu Vàng Xanh Đ1, kích thước (70x50x65)cm, bên trong chứa 52 khối pháo nổ có tổng khối lượng là 70,87kg thu giữ của Đặng Đức P. Đã lấy ngẫu nhiên 10 khối pháo có tổng khối lượng 13,56kg gửi đi giám định, còn lại 57,31kg.
  • 01 (một) thùng xốp bên ngoài dán băng dán màu Vàng Xanh Đ1, kích thước (70x50x65)cm, bên trong chứa 52 khối pháo nổ có tổng khối lượng là 70,1kg, thu giữ của Đặng Đức P. Đã lấy ngẫu nhiên 10 khối pháo có tổng khối lượng 13,59kg gửi đi giám định, còn lại 56,51kg.
  • 01 (một) thùng xốp bên ngoài dán băng dán màu Vàng Xanh Đ1, kích thước (50x70x45)cm, bên trong chứa 05 khối pháo nổ có kích thước (17,5x17,5x10)cm với tổng khối lượng 8,24kg, lấy đi giám định 02 khối pháo có khối lượng 3,05kg, còn lại 5,19kg; 16 khối pháo nổ có kích thước (15x15x10)cm với tổng khối lượng là 21,65kg, lấy đi giám định 4 khối pháo có khối lượng 5,46kg, còn lại 16,19kg; 08 khối pháo nổ có kích thước (14x14x12)cm với tổng khối lượng 9,35kg, lấy đi giám định 3 khối pháo có khối lượng 3,5kg, còn lại 5,85kg.
  • 01 (một) thùng xốp bên ngoài dán băng dán màu Vàng Xanh Đ1, kích thước (50x70x45)cm, bên trong chứa 28 khối pháo nổ có tổng khối lượng 33,12kg thu giữ của Đặng Đức P. Đã lấy ngẫu nhiên 6 khối pháo có tổng khối lượng 7,13kg gửi đi giám định, còn lại 25,99kg.
  • 03 khối pháo nổ có tổng khối lượng là 3,51kg thu giữ của Nguyễn Viết V, đã lấy 01 khối pháo có khối lượng 1,19kg gửi đi giám định, còn lại 2,32kg.
  • 03 khối pháo nổ có tổng khối lượng là 3,6kg thu giữ của Hoàng Khắc Đ, đã lấy 01 khối pháo có khối lượng 1,21kg gửi đi giám định, còn lại 2,39kg.
  • 02 khối pháo nổ có tổng khối lượng là 2,35kg thu giữ của Hoàng Mạnh H, đã lấy 01 khối pháo có khối lượng 1,16kg gửi đi giám định, còn lại 1,19kg.
  • 02 khối pháo nổ có tổng khối lượng 2,33kg thu giữ của Nguyễn Viết H1, đã lấy 01 khối pháo có khối lượng 1,17 kg gửi đi giám định, còn lại 1,16kg.
  • 01 điện thoại Realme 5i, màu xanh, số seri: E7BD32D6, bên trong gắn sim số: 0984717302, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Quang N.
  • 01 điện thoại Iphone 8 Plus, màu vàng, có số IMEI: 35671508420430, bên trong gắn sim số: 0354601789, đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Khắc Đ.
  • 01 thoại Samsung Galaxy A21s, số seri: R58N81R3HTY, bên trong gắn sim số: 0966659987, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Văn D.
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone XR, màu xanh, số IMEI: 353051102546229, bên trong máy có gắn 01 thẻ sim số thuê bao: 0981078486, máy đã qua sử dụng.
  • 01 khối pháo nổ có khối lượng 1,18kg thu giữ của Nguyễn Viết Q, đã lấy khối pháo nổ trên đưa đi giám định.
  • Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12, màu xanh và 01 chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu Kia, số loại Frontier, màu sơn: Xanh, BKS: 37H-055.64, xe đã qua sử dụng thu giữ của anh Nguyễn Xuân H2. Qua điều tra, xác định những đồ vật, tài sản này có chủ sở hữu là anh H2, anh H2 không biết và không đồng phạm với P, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh H2.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2025/HS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết V phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết V 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/10/2024 đến ngày 27/10/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác; quyết định về vật chứng và biện pháp tư pháp, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 23/01/2025, bị cáo Nguyễn Viết V kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Viết V vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2025/HS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đối với bị cáo V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Đơn kháng cáo của bị cáo gửi trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Việc vắng mặt của bị cáo tại phiên tòa: Xét thấy, bị cáo đã nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thấm số 6449/2025/QĐXXPT-HS ngày 30/5/2025 và Giấy triệu tập bị cáo tại ngoại số 32917/2025/QĐPT-HS ngày 30/5/2025 nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Viết V vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 351 và Điều 352 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết V, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù bị cáo Nguyễn Viết V vắng mặt không lý do, nhưng căn cứ vào các lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với nhau. Lời khai nhận tội của bị cáo còn được chứng minh bởi lời khai của các bị cáo khác, của người làm chứng, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Như vậy đã có đủ cơ sở khẳng định: Tối ngày 28/9/2024, bị cáo Nguyễn Viết V đã mua của bị cáo Nguyễn Quang N 08 khối pháo nổ loại 36 quả, có tổng trọng lượng là 9,37kg, với giá 800.000 đồng/1 khối rồi tàng trữ trái phép nhằm mục đích sử dụng vào dịp Tết. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Viết V về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội; bên cạnh đó, Nhà nước đã có nhiều biện pháp tuyên truyền, nghiêm cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng các loại pháo nổ nhưng vì nhu cầu cá nhân, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, đi mua rồi tàng trữ trái phép pháo nổ nhằm mục đích sử dụng. Không những thế, sau khi mua được pháo, bị cáo đã cho Hoàng Mạnh H 02 khối, cho Nguyễn Viết H1 02 khối và cho Nguyễn Viết Q 01 khối để những người này sử dụng, thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật nên cần phải xử phạt nghiêm minh, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

[2.3] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có thời gian tham gia quân đội, có bố, mẹ đẻ là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng H3, Huy chương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, các tình tiết giảm nhẹ này đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, nay bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới.

[2.4] Từ những nhân tích, nhận định nêu trên thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo mức án 01 năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án mà không có lý do, một lần nữa thể hiện việc xem thường pháp luật nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm nêu trên của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đối với bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

[2.5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết V. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2025/HS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An về phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Viết V.
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết V 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/10/2024 đến ngày 27/10/2024.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Viết V phải chịu 200.000 đồng.
  5. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Phòng THAHS, CA tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Nghi Long, H Nghi Lộc:
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo (theo địa chỉ);
  • - Lưu HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 576/2025/HS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 576/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: V tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger