Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 576/2024/DS-PT

Ngày: 29 - 7 - 2024

V/v Tranh chấp di sản thừa kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn

Các Thẩm phán:

Bà Bùi Thị Thu

Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 312/2023/TLPT-DS ngày 02-6-2023 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2022/DS-ST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2223/2024/QĐPT ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Xuân M, sinh năm 1950; nơi cư trú: Số C, đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
  2. Người đại diện ủy theo quyền của bà M: Chị Nguyễn Nhật Vy P, sinh năm 1972; nơi cư trú: 199/41c L, phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

  3. Bị đơn: Ông Trần Phước L, sinh năm 1938; nơi cư trú: số G, Đường A, khu phố D, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
  4. Người đại diện ủy theo quyền của ông L: Anh Trần Phước V, sinh năm 1974; nơi cư trú: số G, Đường A, khu phố D, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

  5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Trần Tứ Q, sinh năm 1947; địa chỉ: D W F Santa A CA 92703 USA (đã chết).
    2. Người thừa kế quyền lợi và nghĩa vụ của ông Q: Anh Trần Duy K, sinh năm 1986; địa chỉ thường trú: 9452 S, Westminster CA 92683. Vắng mặt.

    3. Bà Trần Xuân L1, sinh năm 1953; địa chỉ: B Thompson AVE M Australia. Vắng mặt.
    4. Ông Trần Lục P1, sinh năm 1955; địa chỉ: 8 Dutton ST Y NSW B Australia. Vắng mặt.
    5. Người đại diện theo ủy quyền của bà L1, ông P1, anh K, bà M: Chị Nguyễn Nhật Vy P, sinh năm 1972; nơi cư trú: 199/41c L, phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

    6. Ông Trần Thanh H, sinh năm 1942; nơi cư trú: Số B, đường H, ấp H, xã A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
    7. Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Ông Huỳnh Văn Â, sinh năm 1969; nơi cư trú: 10/15b, hẻm H, đường C, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.

    8. Ông Trần Ngũ T, sinh năm 1951; nơi cư trú: Số A, đường L, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
    9. Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Chị Trần Ngọc T1, sinh năm 1978; nơi cư trú: 1 L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

    10. Bà Trần Thị Kim O; nơi cư trú: 16/1/2 D. ST Worcester. MA 01603. USA. Vắng mặt.
    11. Bà Trần Thị Kim N; nơi cư trú: 16/1/2 D. ST Worcester. MA 01603. USA. Vắng mặt.
    12. Ông Trần Thanh T2; nơi cư trú: 16/1/2 D. ST Worcester. MA 01603. USA. Vắng mặt.
    13. Bà Trần Thị Thu N1; nơi cư trú: 16/1/2 D. ST Worcester. MA 01603. USA. Vắng mặt.
    14. Bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1959; nơi cư trú: 8 đường P, Phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
    15. Ông Nguyễn Minh M1, sinh năm 1968; nơi cư trú: số A, hẻm E, đường N, khu phố C, Phường C, thành phố T. Vắng mặt.
    16. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1963; nơi cư trú: 18/5, khu phố C Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
    17. Bà Phạm Thị P2, sinh năm: 1963; nơi cư trú: 1, khu phố C Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
    18. Anh Nguyễn Quang Đ, sinh năm 1990; nơi cư trú: 18/5, khu phố C Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
    19. Chị Lê Thị Huyền C1, sinh năm 1992; nơi cư trú: 18/5, khu phố C Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
    20. Chị Nguyễn Thị Thu G, sinh năm 1991; nơi cư trú: 18/5, khu phố C Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
    21. Anh Lê Văn M2, sinh năm 1990; nơi cư trú: 1, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
    22. Chị Nguyễn Thị Kim B, sinh năm 1980; nơi cư trú: khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

Do có kháng cáo của bị đơn ông Trần Phước L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo đơn khởi kiện ngày 01-8-2018 và trong quá trình giải quyết vụ án – bà Trần Xuân M và đại diện bà M trình bày:

Cha bà M – cụ Trần Văn X (đã chết năm 1967), mẹ bà M cụ Trần Thị D (đã chết năm 1980), có 08 người con, gồm: ông Trần Xuân H2, sinh năm 1936 (đã chết), ông H2 có 05 người con Trần Thị Kim O, Trần Thị Kim N, Trần Thanh T2 và Trần Thị Thu N1 đang sống nước ngoài và Trần Thị Kim C sống ở Việt Nam; ông Trần Phước L, sinh năm 1938; ông Trần Thanh H, sinh năm 1942; ông Trần Tứ Q, sinh năm 1944 (chết) có con Trần Duy K, vợ ông Q đã ly hôn; bà Trần Xuân M, sinh năm 1950; ông Trần Ngũ T, sinh năm 1951; bà Trần Xuân L1, sinh năm 1953; ông Trần Lục P1, sinh năm 1955.

Ông bà nội, ông bà ngoại bà M chết trước cha mẹ bà. Cha mẹ bà không có con nuôi, con ngoài giá thú. Khi chết cha mẹ bà M không để lại di chúc, chưa chia thừa kế. Tài sản cha mẹ bà để lại gồm:

  • + Trước năm 1967, cụ X, cụ D là người quản lý sử dụng toàn bộ diện tích đất 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Nguồn gốc đất là của cụ Huỳnh Văn M3 (cụ M3 là cậu ruột của cụ X, không có vợ con để lại cho cụ X) sử dụng. Ngày 02-10-1967, cụ X chết, bà M tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất trên, có kê khai, nộp thuế theo quy định và nhận tiền bồi thường giải tỏa khi Nhà nước giải tỏa một phần diện tích đất trên cho anh của bà M – là ông Trần Thanh H vào năm 1996 nhận tiền bồi thường. Do toàn bộ diện tích đất trên của cụ X để lại, bà M quản lý, sử dụng, gìn giữ từ năm 1967 đến nay, không có tranh chấp, không ai yêu cầu chia thừa kế, nhưng bà M vẫn xác định rằng đây là đất cha mẹ để lại thì các con đều được hưởng, nên yêu cầu Tòa chia phần đất trên thành 09 phần; trong đó: bà M hưởng 02 phần vì có công gìn giữ, bảo quản, 07 phần còn lại chia đều cho 07 anh em mỗi người 01 phần. Ông Trần Phước L, không ở trên đất, không quản lý, sử dụng, không đóng thuế đất, nhưng đến năm 2012, ông L về đăng ký xin được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là Giấy CNQSDĐ). Ủy ban nhân dân thị xã T (viết tắt là UBND) nay là UBND thành phố T từ chối cấp Giấy CNQSDĐ – lý do: ông L đưa ra “Tờ bán đất ngày 10-11-1967” để chứng minh đất này là của ông mua không phải là của cha ông – cụ X, nhưng UBND

thị xã T đã đề nghị giám định và kết quả là tờ giấy này là giả mạo. Sau đó, ông L đã kiện UBND thị xã T yêu cầu “Thực hiện hành vi hành chính”, theo Bản án số: 04/2012/HC-ST ngày 16-1-2012 của Tòa án nhân dân thị xã Tây Ninh thì đã bác yêu cầu khởi kiện của ông L. Ngày 23-10-2012, ông L kháng cáo. Sau đó, ông xin rút đơn kháng cáo và đơn khởi kiện. Tuy nhiên, đại diện theo ủy quyền của UBND không đồng ý cho ông rút đơn khởi kiện, mà chỉ đồng ý cho ông rút đơn kháng cáo. Do đó, tại Quyết định số: 02/QĐ-PT ngày 28-12-1012 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã chấp nhận rút đơn khởi kiện và đình chỉ xét xử phúc thẩm. Bản án sơ thẩm có hiệu lực thi hành. Như vậy, đã xác định rõ đó không phải đất của ông L, các anh em còn lại và bà M đều khẳng định rất rõ ràng đó là đất của cha mẹ bà M để lại. Ông L đưa ra giấy tờ giả mạo; hơn nữa nếu đó là đất của ông L thì tại sao từ năm 1967 đến nay ông mới đi kê khai đăng ký, không đóng thuế, không về nhận tiền bồi thường.

Phần đất có diện tích 1.600 m² có một căn nhà hiện tại không ai ở, nằm trong phần đất có diện tích 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, ông L thay mặt anh em đi kiện ông M4, bà Đ1. Bà cho rằng đó là di sản của cha mẹ để lại, bà M có đóng thuế phần đất có diện tích 10.600 m² đầy đủ theo quy định pháp luật, yêu cầu chia di sản thừa kế làm 09 phần cho mỗi người 01 phần, bà 02 phần. Do bà là người có công gìn giữ đóng thuế cho nhà nước.

Đối với phần đất đo đạc thực tế có diện tích 758,7 m², tọa lạc tại số C, đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh và căn nhà trên đất là tài sản của cha mẹ bà để lại. Yêu cầu chia thành 09 phần cho 08 anh em, mỗi người 01 phần, bà M 02 phần vì bà là người quản lý gìn giữ thờ cúng cha mẹ bà từ sau giải phóng cho đến nay.

Phần đất có diện tích 49 m² nằm trong phần đất có diện tích 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, hiện tại ông Nguyễn Văn H1 đang quản lý sử dụng, thì bà M đồng ý cho ông H1 sử dụng 4,0 m x 25 m.

Đối với phần đất bà Nguyễn Lệ N2, anh Ngô Hoàng N3, anh Ngô Hoàng L2, chị Nguyễn Thị V1 lấn một phần thuộc phần đất có diện tích 10.676 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh bà không yêu cầu giải quyết, bà M chỉ yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần đất có diện tích đo đạc thực tế 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

Bà thống nhất với hai phần đất này có giá theo chứng thứ định giá số 0609N/2019/CT-MHD ngày 18/4/2019.

Theo đơn khởi kiện yêu cầu phản tố chia tài sản thừa kế ngày 24-12-2018, tờ trình ngày 23-10-2018 và trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông Trần Phước L trình bày:

Về phần cha mẹ, anh chị em bà M khai là đúng. Khi chết cha mẹ ông không để lại di chúc, chưa chia thừa kế. Ông L hiện không biết địa chỉ liên hệ của các người con ông H2 là bà Trần Thị Kim C và các con của ông H2 ở nước ngoài.

Về tài sản ông L xác định:

  • + Phần đất có diện tích khoảng 758,7 m², tọa lạc số 034, đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh và căn nhà ngói trên đất là tài sản của cha mẹ là cụ X và cụ D.
  • + Đối với diện tích đất đo đạc thực tế còn lại 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, là của ông L. Nguồn gốc đất là ông L mua của ông L3 năm 1967, có giấy viết tay, có xác nhận của UBND xã H. Phần đất này ông L chưa được cấp giấy CNQSDĐ. Trước giải phóng do chế độ cũ nên không đi kê khai đăng ký, sau giải phóng có đi đăng ký nhưng không được cấp Giấy CNQSDĐ lý do là đất tranh chấp với bà M, bà M cho rằng phần đất này do cha mẹ để lại là không đúng.
  • Đối với Quyết định số 89/QĐ-UBND ngày 03/11/2006 của U, phần đất có diện tích 1.600 m² có một căn nhà hiện tại không ai ở nằm trong phần đất có diện tích 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, ông mua của ông L3. Sau khi có Quyết định số 89/QĐ-UBND quyết định phần đất này cho 03 người gồm ông L, ông H, ông T3, ông không có khiếu nại gì. Ông Huỳnh Văn T4 đứng tên phần đất này, hiện nay ông T4 đã chết, ông T4 không có vợ con, cha mẹ ông T4 chết trước ông T4. Ông yêu cầu chia phần đất này cho ông và ông H mỗi người 800 m². Do diện tích 1.600 m² bị chùa L7 lấn hiện nay chỉ còn 1.498,2 m² ông đồng ý.
  • Đối với phần đất bà Nguyễn Lệ N2, anh Ngô Hoàng N3, anh Ngô Hoàng L2, chị Nguyễn Thị V1 lấn một phần thuộc phần đất có diện tích 10.676 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh ông không yêu cầu giải quyết.

Ông đồng ý hai phần đất này có giá theo chứng thứ định giá số 0609N/2019/CT-MHD ngày 18/4/2019.

Ông L2 yêu cầu chia đều phần đất diện tích 758,7 m², tọa lạc số 034, đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh cho 08 anh chị em, mỗi người 01 phần.

Phần đất có tích 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, không đồng ý với bà M. Ông L2 yêu cầu sử dụng toàn bộ phần diện tích đất này.

Về phần đất ông H1 xin thì do trước đây cha mẹ ông H1 chạy giặc có xin đất ông để ở tạm đến nay nên hiện tại ông H1 xin đất ông H1 đang sử dụng không tách thửa được thì ông đồng ý cho ông H1 4,0 m x 25 m có hướng giáp đường.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan -trình bày:

Người đại diện theo ủy quyền của ông H - ông Huỳnh Văn Â:

Về phần cha mẹ, anh chị em bà M khai là đúng. Khi chết cha mẹ bà M không để lại di chúc, chưa chia thừa kế. Ông Â, hiện không biết địa chỉ liên hệ của bà Trần Thị Kim C con ông H2.

Về tài sản:

  • + Phần đất có diện tích khoảng 758,7 m², tọa lạc số 034, đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh yêu cầu chia phần đất này thành 08 phần cho 08 anh chị em, mỗi người 01 phần bằng nhau. Ông H xin hưởng phần đất này. Phần đất mà bà M đã xây dựng công trình trên đó thì bà M có nghĩa vụ di rời tài sản để ông H nhận đất. Căn nhà cụ X, cụ D để lại, không yêu cầu chia.
  • + Đối với Quyết định số 89/QĐ-UBND ngày 03/11/2006 của U, phần đất có diện tích 1.600 m² có một căn nhà hiện tại không ai ở nằm trong phần đất có diện tích 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Sau khi có Quyết định số 89/QĐ-UBND quyết định phần đất này cho 03 người gồm ông L2, ông H, ông T4. Hiện nay ông T4 đã chết, ông T4 không có vợ con, cha mẹ ông T4 chết trước ông T4. Hiện nay phần diện tích 1.600 m² bị chùa L7 lấn một phần diện tích nên chỉ còn lại 1.498,2 m² ông đồng ý chia cho các đồng thừa kế. Số tiền 25.000.000 đồng là tiền bồi thường căn nhà và cây trái của ông M4 là của ông L2 hỗ trợ cho bà Đ1 vợ ông M4.
  • + Phần đất có tích 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, thống nhất với bà Trần Xuân M về nguồn gốc của phần đất có diện tích 9.070 m² đất tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh là của cụ Huỳnh Văn M3 (không vợ, con). Cụ M3 để lại cho cha ông H là cụ Trần Văn X diện tích đất nói trên. Năm 1967 cha ông H chết, để lại cho em ông là bà Trần Xuân M quản lý sử dụng cho đến nay. Vì vậy, ông Trần Phước L tranh chấp quyền sử dụng phần đất nói trên với bà M là không có cơ sở. Ông đề nghị Tòa án bác yêu cầu của ông L cho rằng đất này của ông L mua là không đúng.

Yêu cầu Tòa án chia phần đất này thành 08 phần cho 08 anh chị em, mỗi người 01 phần bằng nhau. Ông H xin hưởng phần đất này.

Phần đất có diện tích 49 m² nằm trong phần đất có diện tích 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, hiện tại ông Nguyễn Văn H1 đang quản lý sử dụng, ông H không phải người trực tiếp cho ông H1 sử dụng, nay ông H đồng ý cho ông H1 4,0 m x 25 m để ở.

Đối với phần đất bà Nguyễn Lệ N2, anh Ngô Hoàng N3, anh Ngô Hoàng L2, chị Nguyễn Thị V1 lấn một phần thuộc phần đất có diện tích 10.676 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh không yêu cầu giải quyết, chỉ yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần đất có diện tích đo đạc thực tế tích 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

Ông đồng hai phần đất này có giá theo chứng thứ định giá số 0609N/2019/CT-MHD ngày 18/4/2019.

Người đại diện theo ủy quyền cho ông P1, bà L1, anh K - bà Nguyễn Nhật Vy P:

Ông P1, bà L1, anh K thống nhất với ông L2, bà M về phần cha mẹ, anh chị em bà M khai là đúng. Khi chết cha mẹ bà M không để lại di chúc, chưa chia thừa kế. Bà P hiện không biết địa chỉ liên hệ của bà Trần Thị Kim C.

Về tài sản của cụ X và cụ D để lại:

  • + Phần đất có diện tích khoảng 758,7 m², tọa lạc số 034, đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh yêu cầu chia phần đất này thành 09 phần cho 08 anh chị em, mỗi người 01 phần bằng nhau, bà M 02 phần do bà M có công quản lý gìn giữ từ sau giải phóng cho đến nay. Phần đất được hưởng sẽ giao cho bà M quản lý nhà từ đường.
  • + Phần đất có tích 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, thống nhất với bà Trần Xuân M. Yêu cầu Tòa án chia phần đất này thành 08 phần cho 08 anh chị em, mỗi người 01 phần bằng nhau.
  • Đối với phần đất bà Nguyễn Lệ N2, anh Ngô Hoàng N3, anh Ngô Hoàng L2, chị Nguyễn Thị V1 lấn một phần thuộc phần đất có diện tích 10.676 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh không yêu cầu giải quyết.

Hai phần đất này có giá theo Chứng thứ định giá số 0609N/2019/CT-MHD ngày 18/4/2019.

Đồng ý cho ông H1 phần đất có diện tích 4,0 m x 25 m nằm trong phần đất có tích 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, để cho cả gia đình ông Hóa sinh s.

Ông Trần Ngũ T trình bày:

Về phần cha mẹ thống nhất với ông L2, bà M về phần cha mẹ, anh chị em bà M khai là đúng. Khi chết cha mẹ bà ông không để lại di chúc, chưa chia thừa kế. Ông T hiện không biết địa chỉ liên hệ của bà Trần Thị Kim C.

Về tài sản cha mẹ để lại:

  • + Phần đất có diện tích khoảng 758,7 m², tọa lạc số 034, đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh yêu cầu chia phần đất này thành 09 phần cho 08 anh chị em, mỗi người 01 phần bằng nhau, bà M được hưởng 02 phần do có công gìn giữ, quản lý. Ông yêu cầu nhận đất.
  • + Phần đất có tích 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, thống nhất với bà Trần Xuân M. Yêu cầu Tòa án chia phần đất này thành 10 phần cho 08 anh chị em, mỗi người 01 phần bằng nhau, bà M được hưởng 02 phần do có công gìn giữ, quản lý; ông L2 được hưởng 02 phần. Ông yêu cầu nhận đất.

Phần đất có diện tích 1.600 m² có một căn nhà hiện tại không ai ở nằm trong phần đất có diện tích 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, ông xác định đây là đất của cha mẹ ông để lại. Ông yêu cầu chia thừa kế phần đất này cho các đồng thừa kế.

Đối với phần đất bà Nguyễn Lệ N2, anh Ngô Hoàng N3, anh Ngô Hoàng L2, chị Nguyễn Thị V1 lấn một phần thuộc phần đất có diện tích 10.676 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh không yêu cầu giải quyết.

Hai phần đất này có giá theo Chứng thứ định giá số 0609N/2019/CT-MHD ngày 18/4/2019.

Đồng ý cho ông H1 phần đất có diện tích 4,0 m x 25 m nằm trong phần đất có tích 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, để cho cả gia đình ông Hóa sinh s.

Lời khai ngày 28-12-2021 của ông Nguyễn Văn M5: Ông là con rể của bà Trần Xuân M hiện ông đang sống trên phần đất trước đây có diện tích 10.676 m² căn nhà ông đang ở là do ông M4 cất, để trông nhà đất, nguồn gốc đất này là của cha mẹ bà M để lại. Việc đóng thuế sử dụng đất bà M đóng. Ông không yêu cầu gì. Ông đồng ý giao đất lại cho người được hưởng.

Ông Nguyễn Văn H1 trình bày:

Ông là người ở nhờ trên phần đất có diện tích 9.589,6 m² tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh từ năm 1977, khi đến ở nhờ ông có xin bà M và ông L2 cho ở nhờ trên đất này để coi đất, giữ đất mộ ông bà. Ông không biết nguồn gốc của phần đất này. Từ khi ông ở nhờ thì có ông L2, bà M quản lý, sử dụng phần đất này. Trên đất có 03 căn nhà: 01 căn nhà cấp 4 do nhà nước xây nhà tình thương cho mẹ ông H1, 01 căn nhà tôn do ông H1 xây, 01 căn do con rể ông là anh Lê Văn M2 xây. Hiện nay, ông xin được cho phần đất có chiều ngang 04 m, chiều dài 25 m để cho cả gia đình ông sinh sống và đồng ý di dời tài sản qua phần đất được cho.

Lời khai của bà P ngày 02-8-2022: Bà là vợ của ông H1 bà và ông H1 sống trên đất bà M tranh chấp với ông L2 từ năm 1977 cho đến nay. Bà yêu cầu bà M và ông L2 cho bà diện tích 15 m x 30 m để vợ chồng bà và các con bà cất nhà sinh sống.

Lời khai của anh Đ ngày 05-8-2022: Anh là con ông H1 và bà P anh sinh ra và lớn lên trên đất bà M và ông L2 tranh chấp, anh yêu cầu bà M và ông L2 cho anh một phần đất để cất nhà sinh sống.

Lời khai của chị G ngày 05-8-2022: Chị là con của ông H1 và bà P chị sống trên đất bà M với ông L2 tranh chấp từ nhỏ chị thống nhất với ý kiến của ông H1.

Lời khai của chị Huyền C2 ngày 08-8-2022: Chị là vợ của anh Đ là con dâu của ông H1 chị đang sống trên nhà đất của ông H1 chị yêu cầu anh em bà M cho cha chị phần đất để cất nhà sinh sống.

Lời khai của anh Lê Văn M2 ngày 05-8-2022: Anh là chồng chị G con rể ông H1 hiện nay anh đang sống trên đất của bà M thống nhất với ý kiến của ông H1.

Chị Nguyễn Thị Kim B trình bày tại bản tự khai ngày 10/8/2022:

Trước đây bà Trần Xuân M có cho mẹ ruột chị là bà Phạm Thị Y s1 năm 1941 (chết năm 2011) mượn phần đất có diện tích 31,2 m² để ở và sinh sống tại địa chỉ đường N, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Hai bên có ký cam kết tại U, thanh phố Tây Ninh với nội dung là sau khi bà Phạm Thị Y qua đời thì bà Trần Xuân M nhận lại phần đất đó. Bà Phạm Thị Y có 01 người con là chị Nguyễn Thị Kim B. Nay chị đồng ý trả lại cho bà Trần Xuân M phần đất có diện tích nêu trên và nhận số tiền hỗ trợ 27.000.000 đồng (hai mươi bảy triệu đồng). Chị đã di dời tài sản đi trả đất cho bà M xong.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2022/DS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử:

Căn cứ các Điều 623, 649, 650, 651, 652,6 60 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 26, khoản 3 Điều 35, khoản 2 Điều 153, khoản 2 Điều 165, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 477, khoản 2, khoản 3 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 3 của Luật Quốc tịch; điểm đ khoản 1 Điều 169 Luật đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q2; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Xuân M về việc “Tranh chấp di sản thừa kế” đối với ông Trần Phước L.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Phước L về việc “Chia di sản thừa kế” đối với bà Trần Xuân M.
  3. Di sản cụ X1 và cụ D được chia như sau:
    1. Bà Trần Xuân M được quyền sử dụng các phần đất (kèm theo sơ đồ đất):
      • - Phần đất thứ nhất: diện tích 134,4 m² tọa lạc số 034, đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
      • Hướng Đông giáp đất ông Nguyễn Minh T5 đã chết dài 5,42 m + 16,20 m;

        Hướng Tây giáp đất chia cho ông Trần Ngũ T dài 21 m;

        Hướng Nam giáp đường P dài 6,20 m;

        Hướng Bắc giáp đất khu tập thể Sở Tài Chính dài 6,20 m.

        Trên đất có căn nhà cấp 4 của bà Trần Xuân M.

      • - Phần đất thứ hai: diện tích 300,3 m² tọa lạc số 034, đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
      • Hướng Đông giáp kỷ phần của ông Trần Xuân H2 dài 19,60 m;

        Hướng Tây giáp đất chia cho ông Trần Phước L dài 17,94 m;

        Hướng Nam giáp đường P dài 15,86 m;

        Hướng Bắc giáp đất khu tập thể Sở Tài Chính dài 10 m + 4,78 m + 1,31 m.

      • - Phần đất thứ ba: diện tích 5.564,5 m² tọa lạc tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T.
      • Hướng Đông giáp thửa 01 tờ bản đồ số 48 dài 16,44 m + 36,09 m + 7,75 m + 15,68 m;

        Hướng Tây giáp đường theo bản đồ địa chính dài 26,26 m; giáp thửa 22 đất ông Quách Thành P3 dài 3,11 m + 7,25 m + 6,27 m + 4,40 m + 5,70 m; giáp thửa 87, 88 đất bà Vũ Thị Q1 dài 18,29 m + 7,84 m + 7,77m; giáp thửa 24 đất Bà Đ2 dài 9,52 m + 12,80 m.

        Hướng Nam giáp thửa đất 35 tờ bản đồ số 47 (đất Hồ Bơi) dài 52,37 m;

        Hướng Bắc giáp đất chia cho ông Trần Phước L dài 44,24 m + 3,38 m + 7,43 m + 38,46 m.

        Trên đất có nhà của ông Nguyễn Văn H1, nhà tình thương của cha mẹ ông H1 để lại cho ông H1. Ông H1 và các con có trách nhiệm di rời nhà và các tài sản khác trên đất chia cho bà M trả lại đất cho bà M.

    2. Ông Trần Phước L được quyền sử dụng các phần đất (kèm theo sơ đồ đất):
      • - Phần đất thứ nhất: diện tích 74,9 m² đất tọa lạc số C, đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
      • Hướng Đông giáp đất chia cho bà Trần Xuân M dài 17,94 m;

        Hướng Tây giáp đất giáp đất Chi Cục thuế thành phố T dài 16,74 m + 0,67 m;

        Hướng Nam giáp đường P dài 4,20 m;

        Hướng Bắc giáp khu tập thể Sở Tài Chính dài 4,30 m.

        Trên đất có một am thờ.

      • - Phần đất thứ hai: diện tích 1.612,4 m² đất tọa lạc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Có tứ cận:
      • Hướng Đông giáp thửa 01 tờ bản đố số 48 dài 9,41 m + 22,71 m;

        Hướng Tây giáp đường theo bản đồ địa chính dài 5,20 m; giáp phần đất chia cho ông Nguyễn Văn H1 dài 4,00 m; giáp đất chia cho bà Trần Xuân M dài 3,38 m + 7,43 m; giáp đất chia cho ông H dài 10,67 m;

        Hướng Nam giáp đất chia cho bà Trần Xuân M dài 38,46 m + 44,24 m;

        Hướng Bắc giáp đất chia cho ông Trần Thanh H dài 25,00 m + 13,68 m + 41,70 m.

        Ông Trần Phước L có trách nhiệm giao lại cho bà M tiền đóng thuế đất, chi phí hỗ trợ con bà Y số tiền 10.978.362 đồng (mười triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi hai đồng).

    3. Ông Trần Thanh H được quyền sử dụng các phần đất (kèm theo sơ đồ đất):
      • - Phần đất thứ nhất: diện tích 81,9 m² đất tọa lạc số C, đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
      • Hướng Đông giáp đất chia cho ông Trần Ngũ T dài 20,64 m;

        Hướng Tây giáp đất kỷ phần của ông Trần Xuân H2 dài 20,27 m;

        Hướng Nam giáp đường P dài 4,00 m;

        Hướng Bắc giáp khu tập thể Sở Tài Chính dài 4,02 m.

        Trên đất có nhà kho của bà Trần Xuân M.

      • - Phần đất thứ hai: diện tích 1,113 m² tọa lạc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
      • Hướng Đông giáp thửa số 01 tờ bản đồ số 48 dài 17,46 m; giáp đất chia cho ông L dài 10,67 m;

        Hướng Tây giáp đường theo bản đồ địa chính dài 5,20 m; giáp đất chia cho ông Trần Ngũ T dài 21,61 m;

        Hướng Nam giáp đất chia cho ông Trần Phước L dài 25,00 m + 13,68 m + 41,70 m;

        Hướng Bắc giáp đất chia cho ông Trần Ngũ T dài 28,91 m + 47,30 m.

        Ông Trần Thanh H có trách nhiệm giao lại cho bà M tiền đóng thuế đất, chi phí hỗ trợ con bà Y số tiền 10.978.362 đồng (mười triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi hai đồng).

    4. Ông Trần Ngũ T được được quyền sử dụng các phần đất (kèm theo sơ đồ đất):
      • - Phần đất thứ nhất: diện tích 83,3 m² đất tọa lạc số C, đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
      • Hướng Đông giáp đất chia cho bà Trần Xuân M dài 21 m;

        Hướng Tây giáp đất chia cho ông Trần Thanh H dài 20,64 m;

        Hướng Nam giáp đường P dài 4,00 m;

        Hướng Bắc giáp đất khu tập thể Sở Tài Chính dài 4,02 m.

        Trên đất có nhà kho của bà M.

      • - Phần đất thứ hai: diện tích 1.113 m² đất tọa lạc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
      • Hướng Đông giáp thửa số 01 tờ bản đồ số 48 dài 14,46 m; giáp đất chia cho ông H dài 21,61 m;

        Hướng Tây giáp đường theo bản đồ địa chính dài 5,20 m; giáp đất anh Ngô Hoàng L2, anh Ngô Hoàng N3, chị Nguyễn Thị V1 dài 13,66 m; giáp đất của bà Nguyễn Lệ N2 dài 10,71 m + 5,62 m;

        Hướng Nam giáp đất chia cho ông Trần Thanh H dài 28,91 m + 47,30 m;

        Hướng Bắc giáp đất ông C3 dài 13,37 m; giáp đất chị Lưu Thị Diệu T6 dài 40,38 m; giap đất ông Ngô Hoang L4 dài 2,84 m + 16,28 m.

        Ông Trần Ngũ T có trách nhiệm giao lại cho bà M tiền đóng thuế đất, chi phí hỗ trợ con bà Y số tiền 10.978.362 đồng (mười triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi hai đồng).

    5. Giao cho bà Trần Xuân M quản lý, gìn giữ kỷ phần của ông H2 là phần đất có diện tích 83,9 m² đất tọa lạc số 034, đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
    6. Hướng Đông giáp đất chia cho ông Trần Thanh H dài 20,27 m;

      Hướng Tây giáp đất chia cho bà Trần Xuân M dài 19,60 m + 0,23 m;

      Hướng Nam giáp đường P dài 4,20 m;

      Hướng Bắc giáp đất khu tập thể Sở Tài Chính dài 4,25 m.

      Trên đất có nhà ngói bà M đang quản lý.

  4. Buộc bà Trần Xuân M có trách nhiệm giao cho ông Trần Lục P1, bà Trần Xuân L1, anh Trần Duy K (con của ông Trần Tứ Q), kỷ phần của ông Trần Xuân H2 mỗi người số tiền 2.288.802.138 đồng (hai tỷ hai trăm tám mươi tám triệu tám trăm lẻ hai nghìn một trăm ba mươi tám đồng); trả cho ông Trần Thanh H, ông Trần Ngũ T mỗi người 73.747.354 đồng (bảy mươi ba triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn ba trăm năm mươi bốn đồng) (giá trị của 0,2 m đất).
  5. Phần thừa kế của ông H2 tạm giao cho bà M quản lý để sau này người thừa kế của ông H2 có quyền được hưởng theo pháp luật.

  6. Ông Trần Lục P1, bà Trần Xuân L1, anh Trần Duy K(con của ông Trần Tứ Q), kỷ phần ông Trần Xuân H2 có trách nhiệm trả cho bà M mỗi người số tiền 10.978.362 đồng (mười triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi hai đồng) tiền đóng thuế đất và chí phí hỗ trợ con bà Y di dời.
  7. Buộc bà Trần Xuân M có trách nhiệm di dời các tài sản có trên diện tích đất chia cho ông L4, ông H, ông T, trên phần đất tọa lạc số 034, đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh để giao đất cho ông L4, ông T, ông H.
  8. Ông Nguyễn Văn H1 được quyền sử dụng phần đất có diện tích 100 m² đất tọa lạc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận:
  9. Hướng Đông giáp đất chia cho ông Trần Phước L dài 4,00 m;

    Hướng Tây giáp đường dài 4,00 m;

    Hướng Nam giáp đất chia cho ông Trần Phước L dài 25,00 m;

    Hướng Bắc giáp đất chia cho ông H dài 25,00 m.

  10. Các đương sự có trách nhiệm đến Cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  11. Buộc ông Nguyễn Văn H1, bà Phạm Thị P2, anh Nguyễn Quang Đ, chị Nguyễn Thị Huyền C4, chị Nguyễn Thị Thu G và anh Lê Văn M2 có trách nhiệm di dời nhà và các tài sản khác trên đất chia cho bà M sang phần đất ông H1 được cho và trả lại đất cho bà M.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 13/10/2022, bị đơn – ông Trần Phước L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người kháng cáo không rút đơn kháng cáo, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn yêu cầu phản tố các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Người kháng cáo – ông Trần Phước L có người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX giám định chứng cứ là Tờ bán đất đề ngày 10/11/1967 giữa ông Huỳnh Văn L5 và ông Trần Phước L theo đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chia di sản thừa kế bằng hiện vật theo cách chia của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa đúng, chưa xem xét các điều kiện đề chia, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của phía bị đơn. Do có những sai sót nghiêm trọng, đề nghị HĐXX hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Nguyên đơn – bà Trần Xuân M có người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Đề nghị HĐXX bác kháng cáo của phía bị đơn, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chia thừa kế là có căn cứ và phù hợp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Trần Thanh H có người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Đồng ý với kết quả giám định đối với Tờ bán đất đề ngày 10/11/1967 giữa ông Huỳnh Văn L5 và ông Trần Phước L. Việc chia thừa kế theo cách chia của tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp, đề nghị HĐXX bác kháng cáo của bị đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Trần Ngũ T có người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Đồng ý với lời trình bày của phía nguyên đơn, đề nghị HĐXX bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trần Phước L làm trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để chia thừa kế là có cơ sở. Tại Tòa án cấp phúc thẩm ông Trần Phước L kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ, tình tiết nào mới có căn cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông L, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

  1. [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trần Phước L làm trong hạn luật định, thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật là hợp lệ nên đủ điều kiện để thụ lý, xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Các đương sự có đơn xin vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  3. [3] Về nội dung kháng cáo:
    • [3.1] Về xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án
    • Trong phần diện tích 9.589,6m² thuộc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T, bà M yêu cầu chia thừa kế trong đó có 1.600m² đã được Chủ tịch UBND tỉnh T giải quyết tranh chấp QSDĐ bằng Quyết định số 89/QĐ-UBND ngày 03/11/2006 về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Công M6 có nội dung: “Công nhận phần đất diện tích 1.600m², đất tọa lạc tại khu phố C, phường C, thị xã T, tỉnh Tây Ninh thuộc quyền sử dụng của anh em ông Trần Phước L, ông Trần Thanh H, ông Huỳnh Văn T4” (BL 59). Quyết định này đang có hiệu lực thi hành chưa bị thay thế, hủy bỏ.

      Ngày 31/7/2007, ông Huỳnh Văn T4 chết theo Trích lục khai tử số 57/TLKT-BS ngày 06/3/2018 của U1, Quận C, TP ..

      Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật: “1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

      • Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
      • Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
      • Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”.

      Theo lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và các đương sự khác trong vụ án thì ông Huỳnh Văn T4 không có vợ, con, cha, mẹ của ông T4 chết trước ông T4.

      Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu nguyên đơn, bị đơn cung cấp chứng cứ, không xác minh làm rõ về hàng thừa kế thứ hai (nếu không có hàng thừa kế thứ hai thì xác định hàng thừa kế thứ ba) của ông T4 để đưa tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là có thiếu sót. Tòa án xác định ông T4 không có hàng thừa kế thứ nhất từ đó chia 1.600m² đất nêu trên cho ông X, bà M và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trần Văn X, cụ Trần Thị D là chưa phù hợp với quy định của pháp luật.

    • [3.2] Về việc trưng cầu giám định đối với Tờ bán đất đề ngày 10/11/1967 giữa ông Huỳnh Văn L6 và ông Trần Phước L
    • Ông L cho rằng phần đất 9.589,6m² thuộc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T không phải di sản của cụ X, cụ D mà do ông L nhận chuyển nhượng của ông Huỳnh Văn L5 vào năm 1967. Để chứng minh cho lời trình bày của mình, ông L xuất trình chứng cứ là Tờ bán đất đề ngày 10/11/1967 giữa ông Huỳnh Văn L5 và ông Trần Phước L.

      Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không có yêu cầu giám định đối với chứng cứ là Tờ bán đất đề ngày 10/11/1967 do ông L xuất trình.

      Tại Bản kết luận giám định số 05/GĐ.2011 ngày 28/01/2011 của Phòng K1 - Công an tỉnh T (giám định theo đề nghị của UBND thị xã T) có nội dung: “Hình dấu cần giám định có nội dung: "*VIỆT NAM CỘNG HÒA TỈNH TÂY NINH QUẬN PHÚ-KHƯƠNG, ỦY BAN HÀNH CHÁNH XÃ THÁI HIỆP THẠNH” trên “ Tờ bán đất” đề ngày 10/11/1967 đứng tên Huỳnh Văn L6, 64 tuổi, nhà cửa số B T, xã T, quận P, tỉnh Tây Ninh (Ký hiệu A01) với hình dấu tròn có nội dung: "*VIỆT NAM CỘNG HÒA TỈNH TÂY NINH QUẬN PHÚ-KHƯƠNG, ỦY BAN HÀNH CHÁNH XÃ THÁI HIỆP THẠNH” trên: Giấy chứng từ Trần Văn X, đề ngày 2/10/1967; Giấy khai sanh Võ Thị Trúc M7, đề ngày 8/10/1969; Giấy Trích lục chứng thư- hôn thú, đề ngày 20/5/1969; Giấy chứng từ Võ Văn N4, đề ngày 05/10/1967 (Ký hiệu từ M01 đến M04) là không phải do cùng một con dấu dóng ra; Chữ ký cần giám định mang tên Võ Văn T7 dưới mục “Chủ tịch UBHC xã kiêm hộ tịch trên “ Tờ bán đất " đề ngày 10/11/1967 đứng tên Huỳnh Văn L5, 64 tuổi, nhà cửa số 2, T, xã T, quận P, tỉnh Tây Ninh (Ký hiệu A01) với chữ ký mẫu so sánh đứng tên Võ Văn T7 dưới mục "Trích y trong bộ chánh" trên Giấy chứng từ Trần Văn X, đề ngày 2/10/1967; Giấy chứng tử Võ Văn N4, đề ngày 05/10/1967 và dưới mục “Viên chức hộ tịch” trên giấy Trích lục chứng thư hôn thú, đề ngày 10/5/1969 (Kỷ hiệu M01; M03; M04) là không phải do cùng một người ký ra”.

      Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Bản kết luận giám định số 05/GĐ.2011 này để xác định Tờ bán đất đề ngày 10/11/1967 giữa ông Huỳnh Văn L5 và ông Trần Phước L là giả tạo, từ đó không chấp nhận lời trình bày của ông L, xác định 9.589,6m² thuộc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T là di sản do cụ X, cụ D để lại.

      Tại đơn kháng cáo ông L không đồng ý việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Bản kết luận giám định số 05/GĐ.2011 để xác định Tờ bán đất ngày 10/11/1967 là giả tạo vì ông L cho rằng Bản kết luận giám định số 05/GĐ.2011 không được thực hiện theo thủ tục trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015. Ông L yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định đối với Tờ bán đất ngày 10/11/1967 theo quy định của BLTTDS năm 2015.

      Xét thấy, yêu cầu giám định đối với Tờ bán đất ngày 10/11/1967 tại cấp sơ thẩm chưa được giải quyết, việc trưng cầu giám định là cần thiết để làm sáng tỏ sự thật vụ án. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu giám định đối với Tờ bán đất ngày 10/11/1967 của ông L.

    • [3.3] Về thủ tục công khai chứng cứ, xem xét thẩm định tại chỗ, thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm
    • Ngày 05/8/2022, Tòa án cấp sơ thẩm lập Biên bản phiên họp kiểm kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ (BL 541).

      Sau khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tiếp tục thu thập chứng cứ, lập biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, cụ thể như sau:

      Ngày 10/8/2022, ban hành Công văn số 262/TAND-DS gửi UBND tỉnh T đề nghị cung cấp toàn bộ hồ sơ, tài liệu của UBND tỉnh T đã giải quyết bằng Quyết định số 89/QĐ-UBND ngày 03/11/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh T (BL 568). UBND đã cung cấp các tài liệu chứng cứ là: Thông báo số 196/TB-VP ngày 31/7/2006 của Văn phòng UBND tỉnh T (BL 579), Báo cáo số 1398/BC-STNMT ngày 02/11/2006 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (BL 578).

      Ngày 19/9/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2022/QĐXXST-DS ngày 18/7/2022 (BL 562).

      Tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 19/9/2022 (BL 617 – 629) thể hiện phiên tòa sơ thẩm được mở vào lúc 08 giờ 50 phút ngày 19/9/2022, sau khi kết thúc phần hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, Chủ tọa tuyên bố phiên tòa tạm ngừng để HĐXX vào nghị án, sau khi nghị án HĐXX sơ thẩm vào phòng xử án và ấn định tuyên án vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 26/9/2022.

      Sau đó, vào ngày 21/9/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh lập Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ (BL 588), tuy nhiên tại Biên bản chỉ có chữ ký chứng kiến của bà M7. Hồ sơ vụ án không thể hiện Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh có ban hành QĐ xem xét, thẩm định tại chỗ, không thông báo, tống đạt cho ông L và các đương sự khác được biết về thời gian, địa điểm Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ là chưa đảm bảo khách quan, có thiếu sót trong khi tiến hành thủ tục tố tụng.

      Vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 26/9/2022, HĐXX vào phòng xử án và ấn định tuyên án hồi 14 giờ 00 phút ngày 30/9/2022.

      Tiếp đến ngày 23/9/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Công văn số 301/TAND-DS gửi Phòng Quản lý đô thị thành phố T về việc yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ về thông tin quy hoạch đối với phần đất 9.589,6m² thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, Phường C, thành phố T, xác minh có được mở đường nội bộ 03 mét ngang dài hết đất hay không.

      Ngày 23/9/2022, Phòng quản lý đô thị thành phố T có Công văn số 1097/PQLĐT gửi TAND tỉnh Tây Ninh có nội dung: “Thông tin quy hoạch: Thửa đất 17, tờ bản đồ số 47 khu phố C, Phường C, thành phố T có chức năng quy hoạch là đất ở mật độ cao và một phần nhỏ đường giao thông (LGQH 13m); Về nội dung mở đường 3m dài hết đất: Theo nội dung thông tin quy hoạch thì vị trí yêu cầu mở đường nội bộ không thuộc quy hoạch đường giao thông mà có chức năng là quy hoạch là đất ở, vì vậy yêu cầu mở đường 3m để đủ điều kiện tách thửa là không phù hợp” (BL 585).

      Xét thấy, về thủ tục công khai chứng cứ: Sau khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành thu thập thêm tài liệu, chứng cứ. Tuy nhiên, tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 19/9/2022 (BL 588) không thể hiện nội dung tại phiên tòa sơ thẩm HĐXX cấp sơ thẩm đã công bố các tài liệu, chứng cứ do Tòa án mới thu thập cho các đương sự được tiếp cận chứng cứ này là có thiếu sót, ảnh hưởng đến quyền được biết, có ý kiến vối với chứng cứ của các đương sự.

      Về thủ tục mở phiên tòa sơ thẩm: Ngày 19/9/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa sơ thẩm, sau khi kết thúc phần tranh luận, Đại diện VKSND tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, HĐXX vào phòng nghị án tiến hành nghị án kéo dài. Trong thời gian nghị án kéo dài Tòa án cấp sơ thẩm lập Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, thu thập thêm tài liệu chứng cứ tại Phòng quản lý đô thị thành phố T. Khi tiếp tục lại phiên tòa ngày 26/9/2022 và ngày 30/9/2022 HĐXX không trở lại việc hỏi, tranh luận, công bố cho các đương sự được biết về các tài liệu, chứng cứ do Tòa án mới thu thập, để đương sự được trình bày ý kiến đối với các tài liệu, chứng cứ mới này, Đại diện VKSND tỉnh Tây Ninh xem xét các tài liệu, chứng cứ mới do Tòa án thu thập mà HĐXX tuyên Bản án sơ thẩm số 53/2022/DS-ST ngày 30/9/2022 là chưa phù hợp với quy định của BLTTDS năm 2015.

    • [3.4] Tòa án cấp sơ thẩm quyết định phân QSDĐ bằng hiện vật cho các đồng thừa kế phần đất có chiều ngang mặt tiền đường từ 4m, 4,2m đến 6,2m phần đất 758,7m² tại số C đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T và chiều ngang mặt tiền đường từ 4m đến 5,2m đối với phần đất 9.589,6m² thuộc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, Phường C, thành phố T nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh loại đất, điều kiện tách thửa, quy định về diện tích tối thiểu để được tách thửa mà đã tuyên phân chia thừa kế bằng hiện vật là không đảm bảo việc thi hành án.
    • [3.5] Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tạm giao cho bà M7 quản lý kỷ phần của ông Trần Văn H3 phần đất 83,9m² tại số C đường P, khu phố B, Phường C, thành phố T để sau này giao lại cho những người thừa kế của ông H3 là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với phần đất 9.589,6m² thuộc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 47, khu phố C, Phường C, thành phố T Tòa án cấp sơ thẩm không tạm giao phần đất thuộc kỷ phần của ông Trần Văn H3 cho bà M7 quản lý để sau này giao lại cho những người thừa kế của ông H3 mà chia cho bà M7 được nhận kỷ phần của ông H3 và thanh toán lại cho các thừa kế của ông H3 số tiền 2.288.802.138 đồng là chưa đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế của ông Trần Văn H3.
    • [3.6] Tại phiên tòa phúc thẩm, phát sinh tình tiết mới là đại diện nguyên đơn có yêu cầu đề nghị giám định chứng cứ là Tờ bán đất đề ngày 10/11/1967 giữa ông Huỳnh Văn L5 với ông Trần Phước L và cần phải làm rõ các nội dung mà HĐXX đã nhận định ở trên, tại cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và để đảm bảo hai cấp xét xử cần phải hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ về cấp sơ thẩm để xét xử lại.
    • [3.7] Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Phước L, hủy bản án sơ thẩm số 53/2022/DS-ST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
  4. Do hủy về tố tụng, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét về nội dung vụ án.
  5. [4] Về chi phí ủy thác tư pháp:
  6. Ông Trần Phước V đã đóng 800.000 đồng ủy thác tư pháp theo các Biên lai thu số 0095600 (ngày 10/10/2023); 0095597 (ngày 09/10/2023); 0095752 (ngày 10/10/2023); 0095751 (ngày 10/10/2023) của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; nộp ngân hàng I USD x 4 = 380 USD ngày 10/10/2023 tại ngân hàng T8 (A) và 12.000.000 đồng lệ phí dịch thuật. Nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp phúc thẩm được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  7. [5] Về án phí: Do hủy bản án sơ thẩm nên ông Trần Phước L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử sụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Phước L. Hủy bản án sơ thẩm số 53/2022/DS-ST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
  2. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử theo thủ tục sơ thẩm.

  3. Chi phí tố tụng và án phí dân sự: Ông Trần Phước L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và án phí được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP; HSVA; ĐTM.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vũ Đức Toàn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thúy Cầu

Nguyễn Thị Thanh

Vũ Đức Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 576/2024/DS-PT ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp di sản thừa kế

  • Số bản án: 576/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Phước L. Hủy bản án sơ thẩm số 53/2022/DS-ST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger