|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 575/2024/HS-PT
Ngày: 18/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Điều Văn Hằng. |
| Các Thẩm phán: | Ông Phùng Hải Hiệp; Bà Đặng Thị Thơm. |
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Cảnh Duy, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Quang Huy - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 402/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2023/HS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Thị N, sinh ngày 19/5/1995 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú và chỗ ở: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn S, sinh năm 1962 và bà Lê Thị T, sinh năm 1969; có chồng là anh Vũ Đức C, sinh năm 1989 và có 02 con, con thứ nhất sinh năm 2018, con thứ hai sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 02/8/2022 đến nay tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
2. Lê Khắc B, sinh ngày 09/9/2001 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú và chỗ ở: Thôn A, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thổ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Khắc Đ, sinh năm 1972 và bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1971; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 02/8/2022 đến ngày 30/10/2022 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” đến nay. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Triệu P và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị N lập trang facebook “Nhung Tây” và trang facebook “Củi Nhà T1” đăng tải bài viết, hình ảnh các loại súng, đạn để bán và đã 2 lần thực hiện việc bán trái phép vũ khí quân dụng, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Khoảng ngày 10/10/2021, Nguyễn Văn A (sinh năm 1999, trú tại Hẻm B đường L, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng) dùng tài khoản Facebook "Cu Hero” nhắn tin đến Facebook “Nhung Tây” của Nguyễn Thị N qua ứng dụng nhắn tin Messenger để hỏi mua 01 khẩu súng dạng Rulô, màu đen, ổ đạn xoay loại 6 viên và 46 viên đạn. N đã tìm mua khẩu súng có đặc điểm như trên của một người khác thông qua mạng xã hội Facebook (N không nhớ cụ thể là mua của ai và hình thức mua như thế nào) sau đó gửi hình ảnh khẩu súng cho Nguyễn Văn A xem thì Văn A đã đồng ý mua. N và Văn A thỏa thuận giá khẩu súng là 11.000.000đ, giá 46 viên đạn là 600.000đ, Văn A phải chuyển tiền trước cho N qua tài khoản ngân hàng V số 0351000799117, sau đó N mới chuyển súng và đạn cho Văn A. Ngày 12/10/2021, Văn A sử dụng tài khoản Ngân hàng M số [...] của Văn A để chuyển số tiền 11.600.000đ đến tài khoản ngân hàng V số 0351000799117 của Nguyễn Thị N với nội dung “Cu hero ck". Sau khi chuyển khoản tiền cho N, Văn A dùng trang Facebook “Cu Hero” nhắn tin, gửi ảnh chụp giao dịch chuyển tiền nêu trên cho N để thông báo về việc đã chuyển tiền mua súng, đạn và gửi thông tin để N gửi súng cho Văn A, gồm số điện thoại “0397.781.xxx, 0919698480”, người nhận “a cu thóc”, địa chỉ nhận “bến xe Đ, Liên N1, Lâm Đồng” hoặc “Tổ dân phố 27 thị trấn L, Đ, Lâm Đồng”. Nguyễn Thị N đã đóng gói khẩu súng, hộp đạn vào một hộp cát tông sau đó dán kín, ghi thông tin người nhận như trên vào bên ngoài hộp cát tông và gửi xe chở hàng vào tỉnh Lâm Đồng cho Văn A. Khoảng một tuần sau thì Văn A nhận được súng và đạn qua dịch vụ giao hàng của xe khách tại B, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Khẩu súng có đặc điểm: súng ngắn, màu đen, có ổ quay, trên thân súng ghi dòng chữ “WARNING: BEFORE USING READ SAFETY MANUAL; MADE IN TAIWAN; 20TH4692".
Tại Kết luận giám định số 62/GĐ-PC09 ngày 14/02/2022, Phòng K Công an tỉnh L kết luận khẩu súng này “là súng ổ quay tự chế, thuộc vũ khí quân dụng”, các viên đạn mặt ngoài đáy đạn có chữ “C” không phải là vũ khí quân dụng (là đạn thể thao cỡ 5,6x15,6mm).
- Lần thứ hai: Khoảng giữa tháng 7/2022, Nguyễn Triệu P sử dụng tài khoản Facebook “Phú N2” nhắn tin với Nguyễn Thị N3 qua Facebook “Nhung T2” để hỏi mua 1 khẩu súng dạng ru màu trắng. N đã liên lạc với một người sử dụng tài khoản Facebook “N” hỏi mua khẩu súng như trên thì người này nói giá 8.500.000đ. N báo lại với P giá khẩu súng là 10.000.000đ và phải chuyển tiền trước cho N qua tài khoản Ngân hàng V số 0351000799117 của N thì N mới gửi súng. Ngày 17/7/2022, P đã dùng tài khoản Ngân hàng V số 1023678323 của Lê Thị P1 (là vợ của P) để chuyển số tiền 10.000.000đ cho N. Nhận được tiền P chuyển, N đã chuyển số tiền 16.500.000đ cho người có Facebook “Nam Ca” qua tài khoản ngân hàng V số 1019411680 có tên NGUYEN THI LAN, trong đó 8.500.000đ là tiền mua khẩu súng, còn 8.000.000₫ là tiền N đang nợ người này. Ngày 25/7/2022, P gọi điện đến số điện thoại 0383.802.xxx đăng trên trang Feebook “Nhung Tây” thì Vũ Đức C (là chồng của N) nghe máy. C hỏi P “ai đấy”, P nói “sao lâu chưa gửi hàng”, C hỏi “hàng gì”, P nói “đặt khẩu ru lô chế bên facebook Nhung Tây”, C trả lời “để hỏi lại N đã”. C hỏi Nguyễn Thị N về việc này thì N trả lời “để em hỏi lại rồi báo cho khách sau”. Ngày 26/7/2022, P tiếp tục gọi lại cho N thì C nghe máy, P nói “đã có súng chưa”, C hỏi N thì N nói “chắc chắn ngày mai sẽ giao”, C đã trả lời P “ngày mai sẽ giao hàng”.
Khoảng gần 01h ngày 27/7/2022, có người gọi điện thoại cho Nguyễn Thị N ra nhận hàng tại khu vực cầu vượt Y (thuộc huyện D, tỉnh Nghệ An), N đã đi nhận hàng là một thùng cát tông màu vàng dán kín. Đưa về nhà mở ra kiểm tra thì bên trong có 01 khẩu súng dạng Rulo màu trắng bạc, ổ quay (hộp tiếp đạn) của khẩu súng có 06 vỏ đạn và N đóng gói khẩu súng lại trong thùng cát tông như cũ. Trưa ngày 27/7/2022, N nhờ Vũ Đức C ghi thông tin người nhận bên ngoài thùng cát tông với nội dung “anh P, ngã Tư ga. Cầu vượt Qu12 TP H, 0326530121”. C không biết trong thùng cát tông có gì và cũng không hỏi N trong thùng là hàng gì. Sau khi C viết xong địa chỉ, N đặt thùng cát tông có chứa khẩu súng này vào góc nhà trong phòng bếp. Đến khoảng 12h ngày 27/7/2022, khi N đang ngồi ăn cơm cùng C và Lê Khắc B tại nhà của C và N, N nói với B “chiều cầm gói hàng đi gửi xe khách Bắc-Nam vào TP H giúp chị” thì B đồng ý. Khi C ăn xong và đi vào phòng ngủ thì N dặn B: “đi cẩn thận kẻo Công an bắt vì bên trong có súng”. Khoảng 14h30p ngày 27/7/2022, Lê Khắc B đưa thùng cát tông có chứa khẩu súng bỏ lên chỗ để chân phía trước yên xe của xe máy YAMAHA JANUS, biển kiểm soát 37F1- 936.85 sau đó dắt xe ra cổng để đi về phía đường Q. Khi B ngồi lên xe chuẩn bị đi thì lực lượng Công an yêu cầu kiểm tra, phát hiện trong thùng cát tông có 01 khẩu súng dạng Rulo bằng kim loại màu trắng bạc, ốp lót tay bằng nhựa màu đen, trên thân súng có ký hiệu 21TH016632, bên trong hộp tiếp đạn có 06 vỏ đạn màu vàng cỡ 5,6x15,5mm, dưới đáy vỏ đạn đều có ký hiệu “C”, trên thùng cát tông có 01 tờ giấy màu trắng ghi thông tin “anh P, ngã tư ga. Cầu vượt Qu12 TP H, 0326530121”.
Hồi 16h ngày 27/7/2022, Vũ Đức C đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan An ninh điều tra 01 khẩu súng màu đen, trên thân súng có ký hiệu TACTICAL, Seri Number 544454; 0,56 kg đạn chì hình nấm cỡ 4,5mm; 01 hộp tiếp đạn màu đen, kích thước (4,2x3,8x1,5)cm; 1 ống ngắm bằng kim loại màu đen, dài 38,3 cm, trên ống ngắm có ký hiệu VORTEX.
Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị N và Vũ Đức C, tiến hành trưng cầu giám định đối với các tang vật đã thu giữ.
Kết luận giám định số 28/KL-KTHS(Đ3-SĐ) ngày 31/7/2022, Phòng K Công an tỉnh N xác định:
“Đối với mẫu vật thu giữ của Lê Khắc B gửi đến giám định gồm có:
- - 01 (Một) khẩu súng ngắn có ký hiệu 21TH016632 là súng tự chế bắn đạn cỡ 5,6x15,5mm - thuộc vũ khí quân dụng. Hiện tại súng còn sử dụng để bắn được.
- - 06 (Sáu) vỏ đạn màu vàng, dưới đáy vỏ đạn đều có ký hiệu “C” là vỏ của loại đạn cỡ 5,6x15,5mm.
Đối với mẫu vật thu giữ của Vũ Đức C gửi đến giám định gồm có:
- - 01 (Một) khẩu súng, trên thân súng có ký hiệu TACTICAL, seri Humber 544454 là súng hơi - thuộc súng săn. Hiện tại súng còn sử dụng để bắn được.
- - 01 (một) khẩu súng, trên thân súng có ký hiệu CHIAPPA là súng bắn đạn cỡ 5,6x15,5mm, nhưng hiện tại súng không sử dụng để bắn được nên không thuộc vũ khí.
- - Các mẫu vật có tổng khối lượng là: 0,560 kg là đạn chì hình nấm cỡ 4,5mm - thuộc súng săn. Loại đạn này sử dụng được cho khẩu súng có ký hiệu TACTICAL, Seri Number 544454 thu giữ của Vũ Đức C gửi đến giám định.
- - 01 (một) hộp tiếp đạn màu đen, kích thước (4,2x3,8)cm, độ dày 1,5cm sử dụng được cho khẩu súng có ký hiệu TACTICAL, Seri Number 544454 thu giữ của Vũ Đức C gửi đến giám định.
- - 01 (một) ống ngắm bằng kim loại màu đen, dài 38,3cm, có ký hiệu VORTEX, sử dụng được cho hai khẩu súng thu giữ của Vũ Đức C gửi đến giám định nói trên”.
Tại Kết luận giám định số 31/KL-KTHS(Đ3-SĐ) ngày 25/8/2022, Phòng K Công an tỉnh N xác định:
- “- 36 (ba mươi sáu) mẫu vật có kích thước, hình, dạng khác nhau gửi tới giám định là các bộ phận, linh kiện của súng. Hiện tại các mẫu vật này không thể lắp ráp thành khẩu súng hoàn chỉnh do đây là bộ phận, linh kiện của nhiều khẩu súng khác nhau và còn thiếu một số bộ phận, linh kiện khác để có thể lắp ráp được.
- - Các mẫu vật trong 02 (hai) hộp kim loại và 01 (một) hộp nhựa gửi tới giám định là các viên đạn thường được dùng cho súng hơi cỡ nòng 5,5mm - thuộc súng săn.
- - 04 (bốn) viên đạn gửi tới giám định là đạn đầu cao su cỡ 9mm - thuộc công cụ hỗ trợ".
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2023/HS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm v, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Lê Khắc B 09 (chín) tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/8/2022 đến ngày 30/10/2022.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo khác, quyết định xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, cùng ngày 29/6/2023, các bị cáo Nguyễn Thị N, Lê Khắc B cùng có đơn kháng cáo đều với nội dung xin giảm hình phạt và đề nghị được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Khắc B tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo; bị cáo Nguyễn Thị N, thừa nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm quy kết là đúng và giữ nguyên nội dung kháng cáo là xin giảm hình phạt và được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, kháng cáo của bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá hành vi của bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thấy có đủ căn cứ xác định các bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, Lê Khắc B phạm tội “Vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy các bị cáo phạm tội lần này là lần đầu phạm tội, thiếu nhận thức về quy định của pháp luật, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo Lê Khắc B tại phiên tòa hôm nay tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo N có thai, do vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ngừoi phạm tội là phụ nữ có thai. Bị cáo N có hoàn cảnh gia đình khó khăn hiện đang nuôi 02 con còn nhỏ, trong đó có con nhỏ hơn 36 tháng tuổi. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo N; không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa, bị cáo B tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo.
Bị cáo N thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra và các tài liệu đã được thu thập, thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2021 đến tháng 7/2022, Nguyễn Thị N đã 02 lần thực hiện hành vi tàng trữ, mua bán 02 khẩu súng tự chế thuộc vũ khí quân dụng và đạn thể thao. Nguồn gốc của các khẩu súng này do N đặt mua trên mạng internet về để bán lại cho khách có nhu cầu. Hành vi của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chế độ quản lý vũ khí của Nhà nước và xâm phạm an toàn công cộng của xã hội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt, xin được hưởng án treo của các bị cáo N, Hội đồng xét xử thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo khi quyết định hình phạt. Trong vụ án này bị cáo N giữ vai trò chính như đăng tin quảng cáo việc bán súng, tìm kiếm người mua bán súng để thu lợi bất chính. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Thị N cũng được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo thành khẩn khai báo, có thành tích trong hoạt động xã hội thiện nguyện được tặng Giấy khen, cứu giúp người bị tai nạn đuối nước có xác nhận của UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, gia đình có ông bà nội có công với cánh mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bị tai nạn giao thông chấn thương sọ não. Nên Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm bị cáo mang thai nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “ người phạm tội là phụ nữ có thai” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 BLHS. Về đường lối chính sách pháp luật của Nhà nước ta là xử lý người phạm tội ngoài trừng trị còn nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo N giữ vai trò chính, cầm đầu nên không thuộc trường hợp cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử thấy, trong vụ án này bị cáo N được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 BLHS, hoàn cảnh gia đình bị cáo có khó khăn, bị cáo là phụ nữ đang mang thai, nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm mức hình phạt tù nhưng không cho bị cáo được hưởng án treo để nhằm giáo dục, phòng ngừa và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời thể hiện sự nhân văn, khoan hồng của Nhà nước, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo N; Đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bị cáo B; Sửa bản án sơ thẩm là phù hợp nên được chấp nhận.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo N; Đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bị cáo B; sửa bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo Nguyễn Thị N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Lê Khắc B không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào Điều 348; điểm a, đ khoản 1, khoản 2 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
Đình chỉ xét phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lê Khắc B và Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N xin giảm hình phạt; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2023/HS-ST ngày 16/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đối với các bị cáo, cụ thể:
1. Đình chỉ xét phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lê Khắc B.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm v, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N 12 (Mười tháng) tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị N và bị cáo Lê Khắc B không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điều Văn Hằng |
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ | |
| Phùng Hải Hiệp | Đặng Thị Thơm | Điều Văn Hằng |
Bản án số 575/2024/HS-PT ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 575/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
