Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 575/2025/DS-PT

Ngày: 26/5/2025

v/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi nhà cho ở nhờ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Dung;

- Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Kim Thương

Bà Lê Thị Mỹ Nhung

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Khương - Kiểm sát viên.

Ngày 26/5/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 382/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi nhà cho ở nhờ”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 831/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1983/2025/QĐ-PT ngày 14/4/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Dương Thị B, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Số B ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn:

Ông Lý Đạo Phú Q, sinh năm 1987 (Có mặt).

Địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền số công chứng 00004116 ngày 08/5/2025 lập tại Văn phòng C).

Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1951 (Có mặt).
  2. Bà Lê Thị D, sinh năm 1952 (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Số I ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Bùi Văn T, Luật sư của Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).

Địa chỉ: Số A T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ lkiên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991 (Có mặt).
  3. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1999 (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Số I ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1955 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số E ấp A, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Bị đơn – bà Lê Thị D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Thương T3 trình bày:

Đối tượng tranh chấp là phần nhà đất có diện tích 300m² thuộc một phần thửa đất số 63, tờ bản đồ số 15, Bộ địa chính xã X, huyện H theo tài liệu đo năm 1989.

Nguồn gốc đất và quá trình sử dụng: nguyên trước đây, phần đất diện tích 300m² thuộc chủ quyền của vợ chồng ông Hoàng Văn Đ (sinh năm 1967) và bà Nguyễn Thị N (sinh năm 1970), thường trú tại nhà số I ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 11/7/1996, ông Đ bà N tự nguyện lập văn tự sang nhượng đất lại cho ông Phan Văn H1 (sinh năm 1920) trọn quyền sử dụng 300m² trên (ngang 6m, dài 50m) với giá là 7.575.000 đồng. Kể từ ngày ông Phan Văn H1 nhận chuyển nhượng đất, ông H1 có thực hiện nghĩa vụ thuế nhà đất từ năm 1998 đến năm 2000.

Ngày 17/12/2000, ông Phan Văn H1 lập “Giấy thoả thuận sang nhượng nhà đất” với diện tích 300m² như trên cho bà Dương Thị B, với giá là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, bà B đã giao đủ tiền cho ông H1 ký nhận có ông Phan Văn T4, ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị D ký người làm chứng. Cùng ngày 17/12/2000, bà B đã nhận nhà, đất từ ông H1 và có ghi nhận rõ ràng trong “Giấy thỏa thuận sang nhượng đất”; đồng thời, ông Phan Văn H1 cũng giao cho bà B bản chính các giấy tờ gồm “Giấy thỏa thuận sang nhượng đất” ngày 11/7/1996; Giấy “Xin xác nhận có nhà riêng” ngày 04/10/2000 của ông Phan Văn H1; Hợp đồng đo đạc số 009109 ngày 26/10/2000; Bản đồ hiện trạng vị trí; Tờ khai thuế đất số 875 ngày 27/3/1998; Các biên lai thu thuế nhà đất từ năm 1998- 2000 do ông Phan Văn H1 đóng tại Chi Cục thuế huyện H có số: No.003993 ngày 27/3/1998, N1.004177 ngày 07/7/1999, N1.007189 ngày 14/5/2000. Kể từ ngày nhận sang nhượng đất, bà B tiếp tục thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhà đất từ năm 2002 đến năm 2011 (có biên lai đóng thuế đính kèm).

Do bà B có mối quan hệ quen biết, làm ăn với ông Nguyễn Văn H nên ông H có xin bà B cho tiếp tục ở nhờ lại phần nhà, đất nêu trên một thời gian ngắn trong lúc ông đang khó khăn về chỗ ở. Tin tưởng vào lời ông H nên bà B có cho ông H tiếp tục ở nhờ phần nhà đất trên. Tuy nhiên, khi bà B có nhu cầu sử dụng nhà, đất và yêu cầu ông H trả nhà, đất thì ông H không đồng ý. Bà B đã nhiều lần đòi nhà, đất nhưng ông H vẫn ngang nhiên chiếm giữ nên bà B có nộp đơn tranh chấp tại Ủy ban nhân dân xã X từ năm 2005 và khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn được Tòa án thụ lý năm 2005. Nhận thấy phía ông Phan Văn H1 và ông H có thiện chí hòa giải trả lại nhà đất cho bà B nên bà rút đơn khởi kiện và Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án này.

Sau khi nhiều lần thương lượng không thành, phía ông H cố tình né tránh việc trả lại nhà, đất cho bà B nên bà tiếp tục nộp đơn khởi kiện đến Ủy ban nhân dân xã X yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai đối với vợ chồng ông H, bà D vào ngày 19/8/2022. Ngày 28/10/2022, Ủy ban nhân dân xã X đã lập biên bản hoà giải không thành và đề nghị chuyển hồ sơ, hướng dẫn bà B đến cơ quan Toà án có thẩm quyền để giải quyết.

Do đó, bà B đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn yêu cầu khởi kiện như sau:

  1. Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị D phải trả lại cho bà Dương Thị B phần nhà đất diện tích 300m² thuộc một phần thửa đất số 63, tờ bản đồ số 15, Bộ địa chính xã X, huyện H theo tài liệu đo năm 1989.
  2. Công nhận phần nhà, đất diện tích 300m² nêu trên thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Dương Thị B để bà B liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng, sở hữu nhà, đất theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T3 xác định yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị B đối với phần nhà, đất diện tích 300m² thuộc thửa đất số 63, tờ bản đồ số 15 (TL1989) sau khi đo đạc thực tế có diện tích 331,5m² thuộc thửa 51, 52 tờ bản đồ số 32 Bộ địa chính xã X, huyện H (TL2006).

Bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị D trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 14/12/2022 như sau:

Năm 2000, ông Nguyễn Văn H có vay của bà Dương Thị B số tiền 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng. Ông H đã trả được 6.000.000 (sáu triệu) đồng nhưng không có giấy tờ chứng minh, ông H còn nợ lại bà B số tiền 39.000.000 (ba mươi chín triệu) đồng. Do ông H không có khả năng trả nợ cho bà B nên bà B yêu cầu phải viết giấy tay thế chấp ngôi nhà mà vợ chồng ông H, bà D đang ở với ông Phan Văn H1 (diện tích 300m² thuộc một phần thửa số 63, tờ bản đồ số 15, Bộ địa chính xã X, huyện H) đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc đất này do cha của ông H là ông Phan Văn H1 mua của vợ chồng ông Hoàng Văn Đ và bà Nguyễn Thị N.

Ngày 17/12/2000, bà B viết sẵn giấy thỏa thuận sang nhượng nhà đất (đối với phần diện tích 300m² nói trên) nhưng nói với gia đình ông H là giấy thế chấp nhà để đảm bảo cho số tiền vay 39.000.000 (ba mươi chín triệu) đồng của ông H nên ông H1 và vợ chồng ông H đã ký vào giấy thỏa thuận sang nhượng nhà đất nêu trên. Ông H không có nhận số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng của bà B. Việc bà B có được bản chính Giấy thỏa thuận sang nhượng đất giữa vợ chồng ông Hoàng Văn Đ, bà Nguyễn Thị N và ông Phan Văn H1 ghi ngày 11/7/1996 là do lúc đó bà B đang giữ Giấy tờ xe tải của ông H nên vì muốn lấy lại Giấy tờ xe tải cho ông H làm ăn nên ông H1 đã đồng ý hoán đổi giấy tờ này cho bà B. Ông H, bà D đồng ý trả lại cho bà B số tiền 39.000.000 (ba mươi chín triệu) đồng và không đồng ý giao nhà, đất theo yêu cầu của bà B. Nếu bà B yêu cầu trả lại số tiền 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng thì ông H và bà D cũng đồng ý trả.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H không đồng ý các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng vẫn xác định không thể cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị K trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 27/12/2022 trình bày:

Ngày 23/5/2000, bà (K) có viết giấy tay làm chứng việc ông 9 Công tức Nguyễn Văn H có mượn của bà B (Dương Thị B) số tiền 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng. Việc bà viết giấy tay nêu trên là do bà B nhờ bà viết dùm. Tuy nhiên, bà chỉ viết dùm giấy này nhưng không chứng kiến việc bà B giao số tiền 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng cho ông 9 C (Nguyễn Văn H). Việc bà B có mua bán nhà đất của ông H1 hay cho ông H, bà D ở nhờ nhà đất thì bà hoàn toàn không biết.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 831/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

    Công nhận quyền sử dụng đất cho bà Dương Thị B diện tích đất 300m² (đo đạc thực tế diện tích 331,5m²) thuộc thửa đất số 63, tờ bản đồ số 15 TL1989 nay thuộc thửa 52, 53 tờ bản đồ số 32 TL2006 xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH T7 lập ngày 04/01/2023.

    Bà Dương Thị B được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 331,5m² thuộc thửa đất số 63, tờ bản đồ số 15 TL1989 nay thuộc thửa 52, 53 tờ bản đồ số 32 TL2006 xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH T7 lập ngày 04/01/2023.

  2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Dương Thị B về việc tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị Dân S1 tiền 176.398.810 (một trăm bảy mươi sáu triệu ba trăm chín mươi tám nghìn tám trăm mười) đồng. Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Dành quyền khởi kiện cho các bên đương sự đối với số tiền vay mượn 39.000.000 (ba mươi chín triệu) đồng theo trình bày của ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị D. Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp này ở vụ án khác khi có đương sự yêu cầu.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo và các vấn đề khác về thi hành án dân sự.

Bị đơn là bà Lê Thị D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm huỷ bản án dân sự sơ thẩm để xét xử lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị D cùng người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Luật sư Bùi Văn T trình bày:

Đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm đã không đưa những người con của ông Phan Văn H1 vào tham gia tố tụng. Các con của ông Phan Văn H1 gồm có: ông Phan Văn T5 (đã chết); ông Phan Văn L (đã chết); ông Phan Văn T4 (đã chết); bà Phan Thị L1; bà Phan Thị M hiện ngụ tại A, ấp E, xã X, huyện H; bị đơn ông Nguyễn Văn H (Hoàng anh) sinh năm 1951; ông Nguyễn Văn H (Hoàng em) sinh năm 1959 hiện ngụ tại B ấp E, xã X, huyện H.

Tại phiên tòa hôm nay, có mặt trực tiếp ông Nguyễn Văn H (Hoàng em) và chồng của bà Phan Thị M. Phía bị đơn khẳng định trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, phía bị đơn đã cung cấp đầy đủ họ tên các con của ông Phan Văn H1, phía bị đơn có yêu cầu triệu tập các con ông H1 tham gia vụ án nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện.

Do giấy sang nhượng đất giữa bà B và ông H1 là giả tạo, không có thật, hiện nay ông H1 đã chết nên cần phải đưa những người thừa kế của ông H1 vào tham gia tố tụng để giải quyết đối với việc sang nhượng này. Phía bà B không cung cấp được chứng cứ đã giao tiền mua đất cho ông H1, không có biên bản giao nhận nhà đất; bà B cũng chưa hề nhận và sử dụng nhà đất đang tranh chấp, không chứng minh có cho bị đơn ở nhờ.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn tranh chấp yêu cầu bị đơn phải trả lại nhà đất mà nguyên đơn cho bị đơn ở nhờ, không tranh chấp hợp đồng sang nhượng với ông Phan Văn H1 nên không cần phải đưa những người thừa kế của ông H1 vào tham gia tố tụng. Giấy vay nợ mà bị đơn cung cấp chỉ là bản photo, không có chữ ký của bà B; phía bà B xác định không có cho ông H vay số tiền 45.000.000 đồng vào ngày 23/5/2000. Nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn S trình bày:

Đề nghị hủy bản án sơ thẩm theo như kháng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Quá trình từ thụ lý đến khi mở phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định.

- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị D. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn bà Dương Thị B trình bày nguồn gốc phần nhà đất đang tranh chấp là của ông Phan Văn H1, có diện tích 300m² thuộc một phần thửa đất số 63, tờ bản đồ số 15, Bộ địa chính xã X, huyện H theo Tài liệu đo năm 1989. Ngày 17/12/2000, ông H1 đã lập giấy sang nhượng toàn bộ nhà đất này cho bà B; sau đó bà B cho gia đình ông H1 tiếp tục ở nhờ trên đất. Nay, bà B khởi kiện yêu cầu gia đình ông H1 phải trả lại phần nhà đất trên cho bà B.

    Bị đơn ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị D là con của ông H1. Ông H, bà D xác định không có việc ông H1 sang nhượng nhà đất cho bà B. Việc sang nhượng này là hoàn toàn giả tạo, nhằm che dấu việc vay mượn tiền giữa ông H và bà B. Ông H không đồng ý yêu cầu của bà B, ông H đồng ý trả lại cho bà B số tiền đã vay.

  2. [2] Hội đồng xét xử nhận thấy, vào ngày 11/7/1996, vợ chồng ông Hoàng Văn Đ1, bà Nguyễn Thị N và ông Phan Văn H1 lập giấy thỏa thuận sang nhượng đất có nội dung: ông Đ1, bà N chuyển nhượng cho ông H1 phần diện tích đất 300 mét vuông, ngang 6m, dài 50m, với giá 7.575.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông H1 và gia đình vào sinh sống tại phần đất; ông H1 tiến hành nộp thuế nhà, đất vào các năm 1998 đến năm 2000. Tại Tờ khai nộp thuế ngày 27/3/1998 của ông H1 ghi tổng diện tích đất sử dụng là 300m². Tại Đơn xin xác nhận có nhà riêng của ông H1 vào ngày 04/10/2000 thể hiện toàn bộ diện tích đất sử dụng là 300m², trên đất có căn nhà bề ngang 5m, dài 12m, nhà lợp tôn, tường xây, nền gạch.

    Đồng thời, tại Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 14/11/2000 của Đoàn Đo đạc bản đồ Sở Địa chính – Nhà đất TP . Hồ Chí Minh lập theo yêu cầu của ông H1, mục đích để ông H1 bổ túc hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện: diện tích đất thuộc một phần thửa số 63, hiện trạng là 307m², ngang 6m, dài 51,19m, trên đất có một căn nhà.

    Như vậy, từ những tài liệu nêu trên, có đủ cơ sở để xác định ông Phan Văn H1 tạo lập phần đất do nhận chuyển nhượng vào năm 1996, phần đất có diện tích 300m², sau đó ông H1 xây dựng căn nhà trên phần đất này.

  3. [3] Theo giấy thỏa thuận sang nhượng đất do bà B cung cấp thì vào ngày 17/12/2000, ông H1 đồng ý sang nhượng cho bà B phần đất diện tích 300 mét vuông, ngang 6m, dài 50m, có nhà, với giá 50.000.000 đồng. Tại giấy sang nhượng có chữ ký của ông H1, bà B cùng những người làm chứng là ông Phan Văn T4, vợ chồng bị đơn là ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị D.

    Như vậy, bà B nhận chuyển nhượng từ ông H1 phần đất có diện tích 300m² đúng với phần đất mà ông H1 nhận chuyển nhượng từ ông Đ1, bà N. Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, ban đầu bà B cũng chỉ tranh chấp đối với phần đất có diện tích 300m².

    Tuy nhiên, tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15/8/2023 của Tòa án cấp sơ thẩm, Bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH T7 lập ngày 04/01/2023 và Chứng thư thẩm định giá số HCM246/23/TĐ ngày 25/01/2024 của Công ty Cổ phần T8 thì: diện tích đất tranh chấp theo đo đạc thực tế là 331,5m².

    Sau khi có kết quả đo đạc, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị công nhận quyền sử dụng hợp pháp cho nguyên đơn đối với toàn bộ phần đất theo đo đạc thực tế là 331,5m².

  4. [4] Hội đồng xét xử nhận thấy, theo các giấy sang nhượng, T6 khai nộp thuế, Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 14/11/2000 thì phần đất ông H1 tạo lập, kê khai, đóng thuế là 300m², ông H1 chuyển nhượng cho bà B phần đất cũng chỉ có diện tích 300m². Tuy nhiên hiện nay, phần đất bà B tranh chấp có diện tích 331,5m². Như vậy là chênh lệch hơn 30m² so với phần đất do ông H1 tạo lập và sang nhượng lại cho bà B.

    Vì vậy, cần phải tiến hành áp ranh phần đất tại Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 14/11/2000 của Đoàn đo đạc bản đồ Sở Địa chính – Nhà đất TP . Hồ Chí Minh lập theo yêu cầu của ông H1 lên Bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH T7 lập ngày 04/01/2023; để từ đó mới xác định được phần đất 300m² do ông H1 tạo lập và chuyển nhượng cho bà B nằm ở vị trí nào? phần diện tích chênh lệch hơn 30m² nằm ở vị trí nào? phần chênh lệch này từ đâu mà có? có phải do vợ chồng bị đơn tự khai phá, tạo lập trong quá trình sử dụng hay không?

  5. [5] Người làm chứng bà Nguyễn Thị K luôn xác định bà viết giấy vay nợ theo yêu cầu của bà B, số tiền ông H nợ bà B theo giấy vay nợ là 45.000.000 đồng. Nhưng sau đó bà K lại trình bày số tiền nợ là 50.000.000 đồng, ông H đã trả được 5.000.000 đồng, còn lại 45.000.000 đồng. Ông H trình bày ông nợ bà B số tiền 45.000.000 đồng, đã trả 6.000.000 đồng, còn nợ 39.000.000 đồng.

    Bà B lúc thì trình bày không nhớ có cho ông H vay số tiền 45.000.000 đồng vì giữa bà B và ông H có việc vay mượn rất nhiều lần; lúc thì bà B trình bày giấy nợ là do bà K và ông H tự viết nên không có giá trị. Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bà B xác định không cho ông H vay số tiền 45.000.000 đồng vào ngày 23/5/2000.

    Do đó, cần cho đối chất giữa bà K, bà B, ông H để làm rõ về giấy vay nợ ngày 23/5/2000, số tiền vay nợ, có hay không việc bà B là người nhờ bà K viết giấy vay nợ này.

  6. [6] Nguyên đơn bà B ngoài tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ còn tranh chấp về quyền sử dụng đất. Bà B cho rằng do ông H1 đã ký giấy sang nhượng nhà đất cho bà B nên bà có quyền sử dụng hợp pháp đối với nhà đất. Bị đơn ông H, bà D luôn khẳng định giữa ông H1 và bà B không có việc chuyển nhượng nhà đất, việc ký giấy sang nhượng là giả tạo nhằm che dấu việc vay mượn tiền giữa ông H và bà B.

    Như vậy, cần phải xem xét, đánh giá đối với giao dịch sang nhượng giữa ông H1 và bà B để xác định bà B có quyền sử dụng hợp pháp đối với nhà đất đang tranh chấp hay không, từ đây mới xác định bà B có quyền đòi ông H, bà D phải trả nhà đất đang ở nhờ hay không? Việc sang nhượng được ông H1, bà B lập giấy tay, không có xác nhận của chính quyền địa phương; tại thời điểm chuyển nhượng, phần đất chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho ông H1, trên đất lại có nhà hiện hữu; từ thời điểm nhận chuyển nhượng cho đến nay, bà B chưa nhận nhà đất và hiện nay nhà đất cũng chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu hợp pháp. Trong trường hợp giao dịch chuyển nhượng bị vô hiệu, cần giải thích cho bà B về việc có yêu cầu Tòa án giải quyết đối với hậu quả giao dịch vô hiệu hay không? lỗi của các bên ra sao?

    Do ông H1 đã chết nên cần phải đưa những người thừa kế của ông H1 vào tham gia tố tụng trong vụ án. Trong quá trình giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã thực hiện việc xác minh về nhân thân, vợ con của ông H1 nhưng đều được các cơ quan chức năng trả lời không có thông tin. Tại biên bản phiên tòa sơ thẩm thể hiện chính bị đơn ông H cũng không cung cấp được họ tên của các anh chị em của mình.

    Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, ông H, bà D lại cung cấp cho Hội đồng xét xử đầy đủ họ tên, địa chỉ của các anh chị em của ông H, là các con của ông H1. Đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm.

  7. [7] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[8] Bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Hủy bản án sơ thẩm số 831/2024/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi nhà cho ở nhờ”.

    Chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo quy định pháp luật.

  2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Cục Thi hành án dân sự TP.Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Kim Dung

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Kim Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 575/2025/DS-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi nhà cho ở nhờ

  • Số bản án: 575/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi nhà cho ở nhờ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: quyền sử dụng đất và đòi nhà cho ở nhờ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger