Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 575/2024/HS-PT

Ngày 19 tháng 7 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Đức Phương.

Các Thẩm phán:Bà Huỳnh Thanh Duyên.

Ông Nguyễn Văn Tửu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 331/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 04 năm 2024, đối với các bị cáo: Nguyễn Nhật T, Nguyễn Hồng A, Khương Đình T1, Trần Trọng N phạm tội “Giết người”.

Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Nhật T, Trần Trọng N và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hồng A đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HS-ST ngày 21 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 487/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 6 năm 2024.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Nhật T, sinh ngày 02/5/2005 tại tỉnh Cà Mau.

    Nơi cư trú: Khóm B, Phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Vương Ngọc T2; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 26/7/2023, chuyển tạm giam từ ngày 01/8/2023 cho đến nay.

    Tiền sự: Ngày 05/6/2023, U, thành phố C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành; Ngày 09/6/2023, Công an thành phố C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Tham gia tụ tập nhiều người ở cộng cộng gây mất trật tự công cộng và Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành; Ngày 25/5/2022, Công an thành phố C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Tổ chức xúi giục, lôi kéo người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng”, chưa chấp hành.

    Nhân thân: Ngày 03/5/2023, tại Khóm E, Phường E, thành phố C Trường gây thương tích cho Phan Đình T3, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đang thụ lý giải quyết nguồn tin tố giác tội phạm; Ngày 24/5/2023, T thực hiện hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của Nguyễn Văn S1, tại ấp G, xã K, huyện U, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an U1 đã khởi tố vụ án hình sự, đang giải quyết; Ngày 13/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau ra Bản án số 159/2023/HSST, tuyên phạt bị cáo T 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

  2. Nguyễn Hồng A, sinh ngày 30/5/2008 tại tỉnh Cà Mau (có mặt).

    Nơi thường trú: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: Khóm G, Phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng Q và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 26/7/2023, chuyển tạm giam từ ngày 01/8/2023 cho đến nay.

    Tiền sự: Ngày 05/6/2023, U, thành phố C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 09/6/2023, Công an thành phố C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Tham gia tụ tập nhiều người ở công cộng gây mất trật tự công cộng và Trộm cắp tài sản”.

    Nhân thân: Ngày 24/5/2023, Anh thực hiện hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của Nguyễn Bình M, tại Khóm A, phường T, thành phố C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C thụ lý tin báo để giải quyết; Ngày 24/5/2023, A thực hiện hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của Nguyễn Văn S1, tại ấp G, xã K, huyện U, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U1 đã khởi tố vụ án hình sự, đang giải quyết.

  3. Trần Trọng N, sinh ngày 18/5/2006 tại tỉnh Cà Mau.

    Nơi cư trú: Khóm B, Phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: biết đọc, biết viết; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thiện H1 và bà Phạm Thị Tuyết H2; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 26/7/2023, chuyển tạm giam từ ngày 01/8/2023 cho đến nay.

    Tiền sự: Ngày 05/6/2023, U, thành phố C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, với số tiền 1.250.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành; Ngày 09/6/2023, Công an thành phố C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, với số tiền 4.000.000 đồng về hành vi “Tham gia tụ tập nhiều người ở công cộng gây mất trật tự công cộng; Cố ý làm hư hỏng tài sản cá nhân; Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành.

    Nhân thân: Ngày 24/5/2023, N thực hiện hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của Nguyễn Văn S1, tại ấp G, xã K, huyện U, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U1 đã khởi tố vụ án hình sự, đang giải quyết.

Bị cáo không có kháng cáo: Khương Đình T1, sinh ngày 03/7/2008 tại tỉnh Cà Mau.

Nơi cư trú: Khóm A, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khương Thanh N1 và bà Lê Phạm Hồng Đ; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 26/7/2023, chuyển tạm giam từ ngày 01/8/2023 cho đến nay.

Tiền sự: Ngày 09/02/2023, Công an thành phố C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Mang theo trong người công cụ có khả năng sát thương nhằm mục đích gây thương tích cho người khác”; Ngày 09/02/2023, Công an thành phố C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo công cụ, đồ vật có khả năng sát thương”; Ngày 14/02/2023, Công an thành phố C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Mang theo trong người công cụ có khả năng sát thương nhằm mục đích gây thương tích cho người khác”; Ngày 05/6/2023, U, thành phố C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản".

Nhân thân: Ngày 24/5/2023, T1 thực hiện hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của Nguyễn Văn S1, tại ấp G, xã K, huyện U, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U1 đã khởi tố vụ án hình sự, đang giải quyết.

Bị hại: Nguyễn Minh Đ1, sinh năm 2007.

Người đại diện hợp pháp của bị hại Đ1: Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1977 (là cha ruột);

Nơi cư trú: Ấp E, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Trần Đặng Trí N2, sinh ngày 21/01/2010;

Người đại diện hợp pháp: Bà Đặng Thị C, sinh năm 1986 và ông Trần Trung H4, sinh năm 1983 (là cha mẹ ruột);

Nơi cư trú: Số B, đường P, Khóm E, Phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hồng A: Bà Phạm Thị Tuyết H2, sinh năm 1974 là mẹ ruột (có mặt);

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hồng A: Luật sư Đặng Thị Hồng H5, Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

Trong vụ án có bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị cũng không liên quan đến kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ sáng ngày 23/7/2023, Trần Đặng Trí N2 (sinh ngày 21/01/2010), điện thoại rủ Nguyễn Nhật T, Khương Đình T1, Nguyễn Hồng A, Trần Trọng N đến quán cà phê “Cộng” tại số C, đường H, Khóm F, Phường E, thành phố C uống nước. Nhẫn ngồi bàn ngoài hành lang, cạnh cửa ra vào đối diện đường B. Anh, T1 đến ngồi cùng bàn với N2 và nói chuyện về việc cho tên K (bạn của N2 và A) mượn cây dao để K chém nhau với người khác. Sau đó, N và T đến chỗ cách bàn N2 ngồi khoảng 03m. Lúc này, N2, T1 và A đi đến bàn của T, N2 lấy chìa khóa xe máy để trên bàn thì T hỏi: "Đi đâu vậy?". N2 nói: "Đi lấy đồ” (T hiểu là đi lấy dao), T không nói gì. T1 điều khiển xe chở N2, Anh về nhà của A (ở Phường H) lấy dao cho K (ở Phường I) mượn.

Lúc này, Nguyễn Minh Đ1 cùng với Trần Trọng P, Nguyễn Quí N3, Nguyễn Chí H6, Nguyễn Trung N4, Nguyễn Hoàng L cũng vào quán uống nước. Nhóm của Đ1 ngồi vào bàn số 04 phía bên trong, cách bàn của T ngồi khoảng 03m. Nghe nhóm của Đ1 nói chuyện, chửi thề lớn tiếng và có người nhìn ra hướng bàn của T ngồi nên T nghĩ là nhóm này muốn thể hiện và “nhìn đểu”. Trường B, nói với N: “Sao nó nhìn mình hoài vậy, đánh nó không?”. N nói: “Đánh”. T nói: “Hai thằng mà đánh thì tụi nó đánh chết”. N nói: “Đánh luôn”. T không nói gì mà điện thoại cho T1, kêu đem dao giấu, rồi chạy lại quán xem nhóm của Đ1 có ai quen không, nếu không quen thì chém. T1 nói lại với N2, Anh thì cả ba đồng ý.

N2 điều khiển xe chở T1 và Anh đến ngã ba Q - Bùi Thị T4 có bãi rác bên trái, N2 dừng xe. Anh đem dao giấu và tất cả quay lại quán cà phê "Cộng" theo yêu cầu của T4. Đến quán, cả ba đến chỗ T4 ngồi, T4 hất mặt về hướng bàn của Đ1 ngồi và nói: “Kìa”. N2 và T1 nói: “Để vô coi”. Nhẫn, T1 và A đi vào nhà vệ sinh, mục đích xem mặt nhóm của Đ1 có quen ai không. Sau khi quan sát cả ba đi ra cho biết là “Không quen”. Lúc này, tất cả ngồi lại bàn bạc và thống nhất là khi N2 đem dao lại quán thì tất cả sẽ xông vào chém nhóm của Đ1. N2 nói: “Chừng nào đem dao tới, thì tụi mày bang vô”. N2 điều khiển xe chở T1 đi lấy dao, còn lại N, T4 và Anh bàn bạc việc đánh nhóm của Đ1. Thống nhất sử dụng ly thuỷ tinh tại bàn làm hung khí. Trường C1 để gần bên N, N đẩy ly về phía A. Anh cầm ly hất hết nước trong ly ra, rồi đặt lại trên bàn để làm hung khí đánh nhau.

Trên đường đi lấy dao, T1 hỏi N2: "Rồi chém sao?". N2 nói: "Chém trong quán luôn". T1 và N2 lấy dao quay lại đến nơi, T1 bóp còi xe, nẹt ga lớn ra hiệu cho cả nhóm biết. N2 xuống xe, cầm dao đi vào quán, A và N nhìn thấy nên cùng đứng lên, còn T4 ngồi tại bàn. Anh cầm ly thủy tinh ném vào người của Nguyễn Quí N3 nhưng không trúng làm vỡ ly. Tiếp đến, N xông vào dùng chân đạp trúng vào người N3. N2 cầm dao xông đến định chém nhóm của Đ1 thì N3 chạy ra đụng trúng N2 làm cả hai ngã xuống nền gạch nên cả nhóm của Đ1 đứng lên bỏ chạy, còn Đ1 vẫn ngồi tại bàn xem điện thoại không phản ứng gì. Lúc ngã xuống, N3 chụp được lưỡi dao của N2, cả hai giằng co làm cho N3 bị thương ở 02 ngón tay và mu bàn tay. Sau đó, N3 đứng dậy và bỏ chạy ra khỏi quán. Anh tiếp tục cầm ly thủy tinh ném về phía Đ1 nhưng không trúng.

Lúc này, chỉ còn Đ1 ngồi một mình trên ghế, N2 đứng lên xông vào cầm dao bằng 02 tay chém nhiều nhát trúng vào vùng đầu của Đ1. T1 cũng xông vào dùng nón bảo hiểm đánh vào đầu của Đức một cái, làm nón bảo hiểm bị bể. Nhẫn dừng lại xem đang chém bề sống dao hay lưỡi dao, khi xác định đang chém bề lưỡi dao, N2 tiếp tục chém vào vùng đầu của Đ1 làm Đ1 ngã quỵ xuống ghế và co giật. Thấy vậy, T1 chạy ra ngoài lộ và lên xe mở khoá chờ sẵn, A nói với N2: “Nó giật rồi, sắp chết rồi, bỏ đi” và nhặt nón bảo hiểm dưới nền gạch ném vào người N2 và la lên: “Bỏ đi, nó giật rồi, chết người bây giờ”. Nghe tiếng Anh nên N2 dừng lại cùng với A chạy ra xe T1 chở đi khỏi hiện trường. Trong lúc đánh chém, N cầm ghế ngồi xông vào tham gia nhưng nhóm của Đ1 bỏ chạy, không đánh được ai nên N bỏ ghế. N và T4 ra khỏi quán và đi bộ về nhà của T4 (ở Phường G, thành phố C).

T1 điều khiển xe, chở A và N2 về Phường H, thành phố C và N2 ném bỏ con dao vào bụi cỏ, cả ba vào quán game “Net S2” (đường N, thuộc xã L, thành phố C). Một lúc sau, T4 điện cho A, biết được A đang ở quán Nó nên T4 và N đi đến. Tại đây, T4 kêu cả nhóm xóa hết cuộc gọi, nội dung tin nhắn trên điện thoại và dặn: Nếu Công an bắt thì không được khai Trường điện thoại kêu qua quán, tất cả đồng ý. Sau đó, A nghe tin Đ1 chết nên kêu cả nhóm đi đầu thú thì N2 nói: “Chừng nào bị bắt đi rồi tính”. Sau khi bàn bạc, sắp xếp xong, T4 và A về nhà. Nhẫn, N và T1 đi đến khu đô thị S thì bị Công an P1 mời làm việc. Sau đó, Anh và T4 cũng bị Công an P1 mời làm việc.

Đối với Nguyễn Minh Đ1, sau khi bị N2 chém nhiều nhát trúng đầu thì bất tỉnh, được nhóm bạn đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh C cấp cứu. Sau đó được gia đình chuyển đến Bệnh viện T5 điều trị đến ngày 18/8/2023 ra viện. Nguyễn Quí N3 cũng được nhóm bạn đưa vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh C băng bó vết thương trên tay rồi tự về nhà điều trị.

Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể sống số 230/KLTTCT-TTPY ngày 19/10/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh C, đối với Nguyễn Minh Đ1 kết luận: 01 vết sẹo vùng thái dương đỉnh phải, kích thước: 15cm x 0,6cm; 01 vết sẹo vùng đỉnh – chẩm phải, kích thước: 17cm x 0,6cm; 01 vết sẹo vùng đỉnh – chẩm phải, kích thước: 17cm x 0,8cm; 01 vết dẫn lưu thái dương phải, kích thước 02cm x 0,5cm; 01 vết dẫn lưu chẩm phải, kích thước 1,5cm x 01cm; Lõm sọ (khuyết sọ) đáy phập phồng vùng thái dương – chẩm – đỉnh phải; Nứt sọ vùng thái dương – đỉnh phải; Tổn thương não diện rộng vùng thái dương + chẩm + đỉnh phải, hiện tại liệt ½ người trái, mức độ nhẹ; Xuất huyết dưới nhện trán – thái dương phải, hiện tại điều trị ổn định.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người số 230/KLTTCT-TTPY ngày 19/10/2023 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh C kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể của Nguyễn Minh Đ1 tại thời điểm giám định là 72%.

Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 16/KLGĐĐT-TTPY ngày 08/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh C, kết luận: Trần Đặng Trí N2 có độ tuổi từ 13 năm 03 tháng đến 13 năm 09 tháng (thời điểm giám định ngày 23/7/2023).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HS-ST ngày 21 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, quyết định:

Trách nhiệm hình sự.

Áp dụng điểm n, o khoản 1 Điều 123; Điều 17; Điều 56; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T4; Áp dụng điểm n, o khoản 1 Điều 123; Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 12, Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo A, T1, N; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo A.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Nhật T, Nguyễn Hồng A, Khương Đình T1, Trần Trọng N phạm tội “Giết người”.

Tuyên phạt:

Bị cáo Nguyễn Nhật T 15 (mười lăm) năm tù; tổng hợp hình phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” của Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2023/HS-ST ngày 13/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; hình phạt chung của hai bản án Nguyễn Nhật T phải chấp hành là 21 (hai mươi mốt) năm tù; thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 26/7/2023.

Bị cáo Trần Trọng N 11 (mười một) năm tù; thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 26/7/2023.

Bị cáo Khương Đình T1 07 (bảy) năm tù; thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 26/7/2023.

Bị cáo Nguyễn Hồng A 07 (bảy) năm tù; thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 26/7/2023

Ngoài ra, bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Cùng ngày 29/3/2024, bị cáo Nguyễn Nhật T và Trần Trọng N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 05/4/2024, đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hồng A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Anh

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hồng A giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Do bị cáo còn nhỏ, nhận thức còn chưa đúng, nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo A.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét xử và bị cáo đã tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo hợp lệ, đảm bảo hình thức, thời hạn.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng hành vi phạm tội của bị cáo, xác định bị cáo phạm tội giết người là đúng tội danh, xử phạt bị cáo mức hình phạt 7 năm tù là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội bị cáo gây ra. Đại diện hợp pháp của bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết nào mới để làm căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hồng A; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hồng A trình bày:

Mức án 7 năm tù là quá nặng đối với bị cáo. Tại thời điểm xảy ra vụ án bị cáo ở độ tuổi chưa thành niên, nên còn chưa nhận thức đúng. Bị cáo đã cố gắng ngăn cản Nhẫn khi N2 chém bị hại Đ1, bị cáo không có ý định tước đoạt sinh mạng của bị hại. Bị cáo không bàn bạc rõ ràng về việc thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không mong muốn hậu quả xảy ra. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả, bị hại và gia đình của bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có cha ruột tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, có ông nội tham gia kháng chiến và được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Hồng A và đại diện hợp pháp của bị cáo: Thống nhất nội dung bào chữa của Luật sư và trình bày đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các bị cáo Nguyễn Nhật T, Trần Trọng N và đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hồng A kháng cáo đúng quy định nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm. Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo T, N đã rút kháng cáo nên căn cứ khoản 2 Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Thông báo về việc rút kháng cáo trên của bị cáo T, N.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hồng A xác định đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội đã nêu tại bản án sơ thẩm. Tuy nhiên hình phạt 07 năm tù đối với bị cáo là quá nghiêm khắc nên đại diện hợp pháp của bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

[3] Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định:

[3.1] Rạng sáng ngày 23/7/2023, tại quán cà phê “Cộng”, tại số C, đường H, Khóm F, Phường E, thành phố C, nhóm của Nguyễn Nhật T, gồm: Nguyễn Nhật T, Nguyễn Hồng A, Khương Đình T1, Trần Trọng N và Trần Đặng Trí N2 ngồi uống cà phê thì có nhóm của Nguyễn Minh Đ1, gồm: Nguyễn Minh Đ1, Trần Trọng P, Nguyễn Quí N3, Nguyễn Chí H6, Nguyễn Trung N4 và Nguyễn Hoàng L cũng vào cùng quán uống cà phê. Do trong lúc uống cà phê nhóm của Đ1 nói chuyện lớn tiếng và có người nhìn ra hướng bàn của T. Cho rằng là “nhìn đểu” nên T trao đổi với N bàn đánh nhóm của Đ1 để “dằn mặt”. Thực hiện ý định trên, nhóm của T đã bàn bạc việc dùng hung khí là nón bảo hiểm, ly thuỷ tinh, dao tự chế đánh, chém nhóm của Đ1, trong đó, N2 đứng cầm dao chém nhiều nhát vào vùng đầu của bị hại Đ1 và T1 cũng xông vào dùng nón bảo hiểm đánh vào đầu của Đ1 làm cho Đ1 bị thương, ngã quỵ xuống ghế và co giật. Hậu quả là Đ1 bị thương tật tỷ lệ 72%.

[3.2] Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Sau khi phạm tội, các bị cáo rời khỏi hiện trường, bỏ mặc cho hậu quả xảy ra, bị hại không chết là do được cấp cứu kịp thời, ngoài ý muốn của các bị cáo. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Giết người” quy định tại điểm n, o khoản 1 Điều 123 Bộ Luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, do bị hại được cứu chữa kịp thời nên hậu quả chết người chưa xảy ra nên căn cứ Điều 15 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.

[4] Bộ luật Hình sự, tại Điều 101 quy định:

“Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:

1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định”.

Điều 102, Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt quy định:

“1. Tòa án quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt theo nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 57 của Bộ luật này.

3. Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần ba mức hình phạt quy định tại Điều 100 và Điều 101 của Bộ luật này.

Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần hai mức hình phạt quy định tại các điều 99, 100 và 101 của Bộ luật này”.

[5] Khi phạm tội thì bị cáo N có độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi nên hình phạt cao nhất không quá 09 năm tù; các bị cáo A và Thi N5 có độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi nên hình phạt cao nhất không quá 04 năm tù. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo N5 11 năm tù, các bị cáo A, T1 cùng 07 năm tù là không đúng quy định trên.

[6] Mặc dù, bị cáo T1 không kháng cáo, bị cáo N5 đã rút kháng cáo nhưng để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật cần xem xét hình phạt của các bị cáo này.

[7] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hồng A, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Hồng A, Trần Trọng N và Khương Đình T1. Ý kiến của Viện kiểm sát không phù hợp với nhận định trên nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[8] Án phí hình sự phúc thẩm: Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hồng A không phải chịu.

[9] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[10] Giai đoạn phúc thẩm, ông Nguyễn Văn H3 (là cha của bị hại Nguyễn Minh Đ1) gửi đơn yêu cầu bồi thường 31.573.271 đồng và tiền thuốc hàng tháng trong 4 năm, mỗi tháng 650.000 đồng. Thấy rằng: Tại mục [5] của bản án sơ thẩm có nội dung: “… hiện nay bị hại chưa chi phí cho việc điều trị này nên chưa có chứng từ, cơ sở để xem xét nên không giải quyết trong vụ án này. Sau này, bị hại có chứng từ chi phí thì có quyền yêu cầu các bị cáo và những người có nghĩa vụ bồi thường thực hiện nghĩa vụ bồi thường, nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện đến Toà án để giải quyết bằng một kiện dân sự khác”. Vì vậy, yêu cầu trên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 3 Điều 357 Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hồng A.

  2. Sửa Bản án sơ thẩm số 22/2024/HS-ST ngày 21 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hồng A, Trần Trọng N và Khương Đình T1.

  3. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Nhật T, Nguyễn Hồng A, Khương Đình T1, Trần Trọng N phạm tội “Giết người”.

  4. Áp dụng điểm n, o khoản 1 Điều 123; Điều 101, Điều 102, Điều 12, Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51 (đối với bị cáo A, T1, N), khoản 2 Điều 51 (đối với bị cáo A) Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

    1. Xử phạt bị cáo Trần Trọng N 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2023.

    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng A 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2023.

    3. Xử phạt bị cáo Khương Đình T1 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2023.

    4. Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục giam bị cáo Trần Trọng N, Nguyễn Hồng A, Khương Đình T1 để bảo đảm thi hành án.

  5. Án phí hình sự phúc thẩm: Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hồng A không phải chịu.

  6. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Cà Mau (3 bản);
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - Cục THADS tỉnh Cà Mau;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau;
  • - Công an tỉnh Cà Mau;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu: VP (3), Hồ sơ (2), (LTTH).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Đức Phương

Các Thẩm phán

 

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà

Nguyễn Văn Tửu

Huỳnh Thanh Duyên

Phan Đức Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 575/2024/HS-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội "giết người"

  • Số bản án: 575/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Giết người"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa một phần bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger