Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 575/2024/DS-PT

Ngày: 14/11/2024

V/v ““Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Phận.

Các Thẩm phán: Ông Phan Thanh Tòng

Bà Nguyễn Thị Rẻn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Nhật Hạ – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án đã thụ lý số: 329/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 145/2024/DS – ST ngày 27- 8- 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3939/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lưu Phương T, sinh năm 1950. Có mặt.
  2. Nơi cư trú: tổ A ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

    Ông Bùi Văn K – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Nhật T1, sinh năm 1979. Có mặt.
  4. Nơi cư trú: Số B, N, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

    * Người kháng cáo: Ông Lưu Phương T là bị đơn trong vụ án.

Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lưu Phương T trình bày:

Do có quan hệ họ hàng, ông Nguyễn Nhật T1 là cháu gọi ông bằng cậu nên ông có cho ông Nguyễn Nhật T1 vay tiền các lần như sau:

Ngày 28/11/2013, ông chuyển tiền cho ông T1 qua hệ thống ngân hàng V số tiền 100.000.000 đồng, hình thức chuyển tiền qua ủy nhiệm chi, ông T1 sẽ nhận tiền bằng giấy chứng minh nhân dân số [...] do công an tỉnh B cấp ngày 29/9/2011.

Ngày 10/12/2013, ông chuyển tiền cho ông T1 qua hệ thống ngân hàng S số tiền 150.000.000 đồng đến số tài khoản của Nguyễn Nhật T1 là 070002145683.

Tổng cộng ông chuyển cho ông T1 02 lần với số tiền 250.000.000 đồng, mục đích vay làm ăn, không tín lãi, thời hạn trả là 01 năm. Sau thời hạn 01 năm ông nhiều lần yêu cầu ông T1 trả tiền nhưng ông T1 không trả và cố ý trốn tránh.

Ông xác định đây là tiền của cá nhân ông cho ông Tân mượn cho nên nội dung trong giấy nộp tiền, lệnh chuyển tiền ông chỉ ghi “chuyển tiền” không ghi cụ thể là cho T1 mượn tiền, không làm hợp đồng vay tiền, mượn tiền và cũng không ghi tính lãi, ông T1 chỉ nói là mượn tiền làm ăn sau một năm thì trả lại cho ông nhưng đến nay không trả.

Thời điểm năm 2007, các anh chị em khó khăn về kinh tế nên muốn mẹ ông bán đất. Do đó ông đứng ra bán đất thay bà L, số tiền bán đất là 778.050.000 đồng, do ông là người đứng ra nhận tiền. Sau đó, ông hỗ trợ cho anh em mỗi người 05 cây vàng nhưng nhận bằng tiền là 61.750.000 đồng. Đối với ông Phan Thanh N thì có làm biên nhận nhận số tiền 61.750.000 đồng vào ngày 16/6/2007. Còn các anh chị em còn lại thì đưa tiền mặt không làm biên nhận.

Ông thừa nhận bảng chi tiết tiền bán đất của bà Dương Thị L (bút lục 36) là do ông viết và ký tên vào năm 2007 sau khi bán đất và số tiền bán đất đã được phân bổ hết lúc đó cho các thành viên.

Đối với số tiền 250.000.000 đồng ghi “đưa T1” trong bản chi tiết tiền bán đất của bà Dương Thị L là tiền để ông T1 nuôi bà L, mỗi tháng đưa bà L 3.000.000 đồng để sinh sống. Ông đưa tiền cho T1 cũng không làm biên nhận. Số tiền 250.000.000 đồng này không liên quan đến số tiền ông cho Tân mượn hai lần mà ông đang khởi kiện vụ án này.

Nay ông yêu cầu ông Nguyễn Nhật T1 phải trả cho ông một lần số tiền nợ gốc là 250.000.000 đồng; ông không yêu cầu tính lãi.

2

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Nguyễn Nhật T1 trình bày:

Nguyên bà ngoại ông là bà Dương Thị L (1936-2024) sinh được 6 người con gồm: Bà Phan Thị Thu H, sinh năm 1958 (mẹ của ông), ông Phan Thanh T2, sinh năm 1960 (cũng là Lưu Phương T, sinh năm 1950), bà Phan Thị Ánh N1, sinh năm 1963, Phan Thanh T3, sinh năm 1967, Phan Thanh N, sinh năm 1969; Phan Thanh B, sinh năm 1972. Ông là con trai bà Phan Thị Thu H – chị ruột của ông Phan Thanh T2 (Lưu Phương T).

Khoảng năm 1978, ông Phan Thanh T2 sau một thời gian bỏ nhà ra đi thì phạm tội hình sự và bị bắt, sau đó trốn khỏi nơi giam giữ, trốn về nhà (ông được mẹ ông và các dì, cậu kể lại là còn nguyên cả còng tay) nên đã thay tên đổi họ với nhân thân mới là Lưu Phương T sinh năm 1950 để trốn truy nã và xóa án tích. Vì vậy ông Lưu Phương T sinh năm 1950 hay Phan Thanh T2 sinh năm 1960 là cùng một người và chính là em ruột của mẹ ông. Nhưng mẹ ông sinh năm 1958 còn ông Lưu Phương T là em lại sinh năm 1950, vậy ông Lưu Phương T là em ruột lại lớn hơn mẹ ông 8 tuổi.

Trước đây bà Dương Thị L cùng cậu út là ông Phan Thanh B sinh sống tại xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Đến khoảng sau năm 1996 vợ chồng ông Lưu Phương T sau nhiều năm lang bạc ở nhiều nơi cuối cùng về ở tá túc trong ngôi nhà của ngoại ông ở địa chỉ trên. Tuy ở nhờ nhà ngoại ông nhưng vợ chồng ông Lưu Phương T lại đối xử tệ bạc với ngoại ông và cậu út vì cho rằng họ không làm ra tiền chỉ ăn bám vợ chồng ông.

Mâu thuẫn ngày càng lớn không thể dung hòa được, nên vào khoảng năm 1997-1998 bà L và ông B phải về thị trấn M (nay là Mỏ Cày N2) ở cùng mẹ ông. Đến năm 2012 thì chuyển hẳn về ở cùng ông tại địa chỉ D, Khu tập thể G, khu phố E, phường P, thành phố B đến ngày 02/4/2024 thì bà L mất. Ông là cháu ngoại nhưng thay bà H chăm sóc bà L trong khi đó các dì, các cậu của ông vẫn còn sống và hoàn toàn có đủ kinh tế có thể nuôi bà L.

Do bà L về ở M, phần đất của bà L ở xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang không người trông coi, nên khoảng năm 2007-2008 gia đình thống nhất ủy quyền cho ông Lưu Phương T thay bà L đứng ra giao dịch bán đất và nhận tiền từ người mua vì bà L ở xa và đã già yếu không tiện đi lại. Đất của bà L khi đó bán được 63 cây (lượng) vàng, bà L thống nhất cùng các con là chia đều mỗi người 5 cây vàng, phần còn lại để bà L dưỡng già. Thời điểm năm 2007-2008, giá vàng là 12.350.000 đồng/lượng, qui thành tiền tổng số tiền bán đất là 778.050.000 đồng.

Ông Lưu Phương T sau khi làm thủ tục sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhận tiền từ người mua đất đã không tiến hành chia tiền như thỏa thuận theo yêu cầu của bà L mà chiếm giữ để sử dụng vào mục đích cá nhân. Các dì, cậu của ông do ở chung trên đất bà L nên khi bà L bán đất họ phải vay mượn tiền bên ngoài để đi nơi khác mua đất ở dẫn đến thiếu nợ nên mọi người đã tạo áp lực yêu cầu ông Lưu Phương T phải chia tiền cho mọi người để trả nợ.

3

Đến năm 2010 ông Lưu Phương T mới chia tiền cho mọi người thực tế tương đương với giá trị của 3,5 cây vàng nhưng quan hệ gia đình nên mọi người im lặng để qua chuyện. Phần tiền còn lại ông Lưu Phương T vẫn còn tiếp tục chiếm giữ, không chịu trả về cho bà L dưỡng già, trong khi ông vẫn phải chu cấp chi phí cho bà L và ông B (không việc làm vì có bệnh thần kinh do nghiện rượu).

Sau đó, ông Lưu Phương T tiếp tục buôn lậu thuốc lá bị công an bắt giữ, do lo ngại việc làm ăn phi pháp của ông T có thể bị công an bắt và tịch thu tài sản nên mọi người trong gia đình tiếp tục gây áp lực buộc ông T phải trả số tiền còn chiếm giữ của bà L là 250.000.000 đồng. Do ông là người trực tiếp nuôi dưỡng bà L nên ông đứng ra nhận thay bà L. Ông dùng số tiền đó để tiếp tục chu cấp sinh hoạt phí, chi phí y tế - khám chữa bệnh cho bà L và ông B.

Ông Lưu Phương T chuyển cho ông là 250.000.000 đồng vào tháng 11 và 12 năm 2012. Như vậy ông Lưu Phương T đã chiếm giữ tiền của bà L gần 5 năm kể từ ngày nhận tiền bán đất năm 2007. Sau khi chuyển tiền cho ông thì ông Lưu Phương T viết và ký tên bảng kê chi tiết “Tiền bán đất của bà Dương Thị L” và phô tô gửi cho bà L, các cậu, dì và mẹ ông mỗi người một bản. Trong đó liệt kê các khoản ông T đã chi cho mọi người và có khoản tiền 250.000.000 đồng mà ông T đã gửi cho ông, ngoài ra còn có một số khoản chi khống mà ông T tạo dựng lên để nhằm chiếm đoạt số tiền nhiều hơn những anh chị em còn lại như tiền chi cho địa chính, tiền ăn nhậu ...

Do ông Lưu Phương T là người không nghề nghiệp, không chứng minh được thu nhập, ông T không thể có số tiền 250.000.000 đồng để cho ông vay mượn. Ông Lưu Phương T cho rằng chuyển tiền cho ông vay từ năm 2012 và một năm sau ông T có yêu cầu ông trả lại tiền là không có cở sở. Trong những năm qua bà L còn sống thì ông T không có không có đề cập gì đến số tiền nêu trên.

Về phần tiền của bà L, ông nhận và giữ trong tài khoản ngân hàng với lãi suất không kì hạn, do đó tiền lãi là không đáng kể. Mỗi tháng ông rút gửi cho bà L, ông B 5.000.000 đồng, có ông Nguyễn Phan D cùng là cháu ngoại bà Dương Thị L biết. Do ông D là người trực tiếp cầm số tiền này trao bà L hàng tháng. Như vậy tính từ tháng 1/2013 đến tháng 3/2017 bà L đã dùng hết số tiền này, nhưng ông vẫn tiếp tục chu cấp cho đến ngày bà L mất do bệnh.

Ông khẳng định ông T không có chứng cứ thể hiện cho ông vay mượn tiền; Số tiền 250.000.000 đồng theo giấy nộp tiền kiêm ủy nhiệm chuyển tiền ngày 28/11/2013, ngày 10/12/2013 là số tiền ông T giao cho ông theo bảng chi tiết tiền bán đất của bà Dương Thị L chứ không phải là tiền cá nhân của ông T cho ông vay mượn.

Qua yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Phương T thì ông không đồng ý, đề nghị hội đồng xét xử tuyên bác yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Phương T.

Theo biên bản lấy lời khai ngày 06/8/2024 bà Phan Thị Thu H, bà Phan Thị Ánh N1, ông Phan Thanh N người làm chứng theo yêu cầu của ông T1 trình

4

bày cùng trình bày:

Các ông, bà và ông Lưu Phương T là con ruột của bà Dương Thị L. Ông Lưu Phương T, trước đây là Phan Thanh T2, sinh năm 1960, sau đó đổi giấy tờ (thay tên, đổi họ) thành Lưu Phương T, sinh năm 1950.

Năm 2007, bà Dương Thị L bán một phần đất được 63 cây vàng, đổi thành tiền thời điểm đó là khoản 778.050.000 đồng, trong quá trình làm thủ tục bán đất thì ông Lưu Phương T đi theo mẹ để làm thủ tục. Sau khi bán được đất thì ông T là người giử tiền và làm theo lời mẹ là chia đều tiền cho các anh chị em, mỗi người được chia 05 cây vàng, còn lại để cho mẹ dưỡng già. Ông T có trách nhiệm giao cho ông T1 số tiền 250.000.000 đồng tiền bán đất này để ông T1 chăm sóc bà L vì ông T1 là cháu ngoại, sống cùng để chăm sóc bà L.

Tuy nhiên, từ năm 2007 ông T đi làm việc phi pháp (buôn lậu) không chăm sóc bà L, ông T cũng không thực hiện việc giao số tiền 250.000.000 đồng cho ông T1 để lo cho bà L. Đến khoản năm 2013, vì sợ ông T làm việc phạm pháp sẽ bị tịch thu hết tài sản nên các anh em gây áp lực buộc ông T phải chuyển số tiền bán đất còn lại 250.000.000 đồng cho ông T1 để ông T1 thực hiện việc chăm lo cho bà L.

Ngày 02/4/2024, bà Dương Thị L chết; các ông bà biết sau khi bà L chết thì ông T đã khởi kiện ông T1 để đòi số tiền 250.000.000 đồng đã chuyển cho ông T1. Các ông, bà khẳng định số tiền 250.000.000 đồng là tiền của bà L bán đất còn lại để bà L dưỡng già, không phải là tiền riêng của ông T. Ông T chuyển tiền vào số tài khoản của ông T1 để ông T1 giữ hộ và dùng số tiền này chăm lo cho bà L.

Phần đất bà Dương Thị L bán thuộc sở hữu của bà Dương Thị L bán để chia cho bà L và các con, không phải đất của ông Lưu Phương T.

Theo biên bản lấy lời khai ngày 06/8/2024 ông Nguyễn Phan D là người làm chứng theo yêu cầu của ông T1 trình bày:

Ông là cháu của bà Dương Thị L, sống chung nhà với bà Liên từ năm 2012. Quá trình sống chung thì hàng tháng hoặc khi bà L bệnh thì ông T1 đều đưa tiền cho ông để tông ông thuốc, đưa đi khám bệnh, chăm sóc cho bà L, mọi chi phí sinh hoạt đều do ông Nguyễn Nhật T1 chịu.

Do hòa giải không thành nên Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đưa vụ án ra xét xử.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 145/2024/DS – ST ngày 27- 8- 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, tuyên xử:

Căn cứ vào Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 244, 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

5

dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Phương T về việc yêu cầu ông Nguyễn Nhật T1 giao trả số tiền 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, phía bị đơn ông Lưu Phương T có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 145/2024/DS – ST ngày 27- 8- 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

* Phía nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo. Đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa Bản án DSST số 145/2024/DS – ST ngày 27- 8- 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

* Phía bị đơn trình bày:

Bị đơn không đồng ý theo yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Đề nghị giữ nguyên nội dung Bản án DSST số 145/2024/DS – ST ngày 27- 8- 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T trình bày: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Cụ thể: đề nghị sửa Bản án DSST số 145/2024/DS – ST ngày 27- 8- 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.

* Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Lưu Phương T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 145/2024/DS – ST ngày 27- 8- 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, xét kháng cáo của ông T và đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

6

[1]. Ông Lưu Phương T kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết yêu cầu kháng cáo theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên toà, ông T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; ông T4 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của ông T.

[2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Lưu Phương T, thấy rằng:

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phúc thẩm giữa ông T và ông T1 thống nhất ông T có chuyển tiền cho ông T1 hai lần theo giấy chuyển tiền ngày 28/11/2013, ngày 10/12/2013 với số tiền 250.000.000 đồng. Do đó, HĐXX kết luận ông T1 có nhận của ông T 250.00.000 đồng vào năm 2013.

Xét thấy, hai bên thống nhất văn bản không có ghi tiêu đề và ngày tháng “nội dung phân chia tiền bán đất của bà Dương Thị L” do ông T viết và ký tên (Bút lục 36); Đồng thời thống nhất nội dung văn bản phân chia tiền đất có sự thống nhất của các anh chị em trong gia đình ông T giao cho ông T1 250.000.000 đồng để trả cho bà L (mẹ ông T) để làm chi phí dưỡng tuổi già. Như vậy lời trình bày hai bên phù hợp với lời trình bày xác nhận của bà H, bà N1, ông N “có sự việc ông T đứng ra phân chia số tiền bán đất của bà L và ông T có trách nhiệm giao cho ông T1 250.000.000 đồng để ông T1 đưa cho bà L”. Ông T cho rằng số tiền bán đất đưa cho bà L là 250.000.000 đồng ông đã giao cho ông T1 bằng tiền mặt vào năm 2007 nhưng không làm biên nhận và cũng không có người chứng kiến. Tuy nhiên, lời trình bày này không được ông T1 thừa nhận và ông T cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Ông T1 cho rằng số tiền ông T có chuyển tiền cho ông T1 hai lần theo giấy chuyển tiền ngày 28/11/2013, ngày 10/12/2013 với số tiền 250.000.000 đồng là số tiền ông T giao trả cho bà L theo văn bản phân chia tiền nêu trên. Ông T cho rằng có cho ông T1 vay 250.000.000 đồng nhưng không làm biên nhận và không làm hợp đồng, không có người chứng kiến. Việc chuyển khoản khoản tiền 250.000.000 đồng tại Ngân hàng, ông T cũng không có nội dung chuyển tiền là cho ông T4 vay mượn. Việc vay mượn này không được ông T1 thừa nhận, ông T cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh ông T1 nhiều lần cố ý trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho ông. Ông T không có tài liệu chứng cứ chứng minh được số tiền 250.000.000 đồng ông đã chuyển cho ông T1 là số tiền hai bên thỏa thuận vay mượn. Do đó, HĐXX phúc thẩm kết luận số tiền 250.000.000 đồng ông T chuyển cho ông T1 là số tiền theo thoả thuận gia đình, ông T có nghĩa vụ giao lại cho bà L để dưỡng tuổi già, thông qua ông T1 là người trực tiếp nuôi dưỡng; giữa ông T và ông T1 không có quan hệ vay mượn tiền.

Từ những phân tích trên, HĐXX kết luận không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Ông T, giữ nguyên nội dung Bản án dân sự sơ thẩm số 145/2024/DS – ST ngày 27- 8- 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

[3]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên được

7

chấp nhận.

[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, do ông T là người cao tuổi nên được miễn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:

  • - Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lưu Phương T.
  • - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 145/2024/DS – ST ngày 27- 8- 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ vào Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 244, 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Phương T về việc yêu cầu ông Nguyễn Nhật T1 giao trả số tiền 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng.
  2. Về án phí dân sự:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Lưu Phương T là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lưu Phương T là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - TAND thành phố Bến Tre (1b);
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Tre (1b);
  • - Phòng KTNV và THA; VP (3b);
  • - Các đương sự (4b);
  • - Lưu hồ sơ (1b).

8

9

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Phận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 575/2024/DS-PT ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 575/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản nguyên đơn Lưu Phương Tử - bị đơn Nguyễn Văn Tân
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger