Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 574/2024/HS-PT

Ngày: 15- 7- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Năng Thành

Các Thẩm phán: ông Hoàng Nhật Tân, ông Hoàng Văn Thành

- Thư ký phiên toà: ông Đỗ Duy Trung- Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Vũ Thị Thu Hà- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 421/2024/TLPT- HS ngày 09/5/2024; do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2024/HS- ST ngày 20/3/2024 của Toà án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

* Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Công H; tên gọi khác: không; sinh năm 1992, tại Thanh Hóa; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn T, xã M, T, Thanh Hóa; nơi ở khi phạm tội: số C, ngõ B, đường L, phường T, Đ, Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Công B và bà Nguyễn Thị N; gia đình có 02 chị em (bị cáo là con thứ hai); có vợ là Tống Thị Minh N1 (sinh năm 2000) và có 01 con (sinh ngày 27/6/2023); chưa có tiền án, tiền sự; đầu thú ngày 03/9/2018; không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào; tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (xã M); có mặt.

* Ngoài ra, còn có người bị hại (anh Trịnh Đình N2) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (chị Đinh Thị H1); không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Công H và chị Đinh Thị H1 đã là người yêu của nhau, đã chia tay nhau; khoảng 20 giờ ngày 03/9/2018, chị H1 gọi điện nhờ H lấy hộ đồ của chị H1 còn để ở phòng trọ và mang ra đầu ngõ B đường L (phường T, Đ, Hà Nội) cho chị H1. H rủ các bạn là Cao Văn H2 (sinh năm 1995; HKTT: thôn T, xã T, T, Thanh Hóa), Cao Văn H3 (sinh năm 1995; HKTT: xã T, T, Thanh Hóa) và Nguyễn Hữu T (sinh năm 1995; HKTT: thôn T, xã T, T, Thanh Hóa) đi cùng. H nhìn thấy chị H1 đi cùng anh Trịnh Đình N2 và anh N2 đưa cho chị H1 01 chiếc điện thoại di động Nokia TA-1034 màu đen để tiện liên lạc; sau đó, N2 đi xe máy đến đầu ngõ S đường L ngồi uống nước chờ chị H1.

Khi ra đến đầu ngõ B đường L và gặp chị H1, H giật chiếc điện thoại Nokia TA-1034 trên tay chị H1 và ném vào phía trong ngõ B; H tiếp tục chạy đến quán nước do anh N2 đang ngồi (trên ngõ C đường L), dùng tay phải tát mạnh 01 phát vào mặt, khiến anh N2 ngã ra và chiếc điện thoại Samsung Galaxy S7 màu vàng (do anh N2 đang cầm trên tay) bị rơi văng xuống đường. Cùng lúc đó, H2T cũng lao vào và dùng tay, chân đánh anh N2 thì chị H1 và những người xung quanh can ngăn.

Do bị quây đánh nên anh N2 bỏ chạy vào trong ngõ C đường L; nhìn thấy chiếc điện thoại S S7 màu vàng của anh N2 trên đường nên H nhặt lên, cầm ở tay và đi về hướng trường Lê Hồng P (địa chỉ: B đường L, phường T, Đ, Hà Nội); đi được khoảng gần 100 mét thì H đập chiếc điện thoại xuống đất rồi nhặt và vứt chiếc điện thoại này vào chân cột điện trước cổng trường; sau đó, H đi về phòng trọ.

Sau khi bị đánh và bỏ chạy, anh N2 đã quay lại đi tìm chiếc điện thoại của mình nhưng không thấy nên anh N2 đến Công an phường T trình báo sự việc.

Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Công H 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S7 màu vàng (do H đã chiếm đoạt và hủy hoại); thu giữ của chị Đinh Thị H1 01 chiếc động Nokia TA- 1034 màu đen (do H đã làm hư hỏng).

Kết quả làm việc tại cửa hàng S1 (số A ngõ T, phường T) xác định (bút lục 13- 15): Chiếc điện thoại di động Samsung galaxy S7 màu vàng không còn sử dụng được và bị hư hỏng hoàn toàn; Chiếc điện thoại di động Nokia TA- 1034 bị hư hỏng màn hình.

Tại Kết luận định giá tài sản số 491 ngày 14/12/2018 xác định (bút lục 16 và 17): 01 điện thoại Samsung galaxy S7 màu bạc (đã qua sử dụng, bị hư hỏng không phục hồi được) trị giá thiệt hại là 3.200.000 đồng; 01 điện thoại Nokia TA- 1034 màu đen (đã qua sử dụng) có trị giá thiệt hại phải thay màn hình là 150.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra (bút lục 88- 90), người bị hại Trịnh Đình N2 đề nghị xử lý Nguyễn Công H về hành vi Hủy hoại tài sản theo quy định pháp luật; từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý về hình sự, dân sự đối với Nguyễn Công H, Cao Văn H2, Nguyễn Công H4Nguyễn Hữu T về hành vi Cố ý gây thương tích cho mình.

Do đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không đề cập xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên về hành vi Cố ý gây thương tích.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2024/HS- ST ngày 20/3/2024, Toà án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công H phạm tội Hủy hoại tài sản; Áp dụng khoản 1 Điều 178, các điểm h, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Công H 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn dành quyền khởi kiện vụ án dân sự khác cho người bị hại về bồi thường dân sự đối với tài sản bị hủy hoại; quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/3/2024, bị cáo Nguyễn Công H có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phân tích về nội dung vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo, sửa Bản án sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 178, các điểm h, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38 và 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Hủy hoại tài sản; ấn định thời gian thử thách là 12 tháng, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo; các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công H phù hợp các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.

  2. Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Công H tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm, lời khai của người bị hại, đương sự và những người làm chứng, phù hợp các vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án- Đủ cơ sở kết luận: khoảng 20 giờ ngày 03/9/2018, tại khu vực ngõ C Đường L (phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội), Nguyễn Công H đã có hành vi ném xuống đất và làm hư hỏng chiếc điện thoại Samsung galaxy S7 của anh Trịnh Đình N2 (trị giá tài sản bị hủy hoại là 3.200.000 đồng); trước đó, Nguyễn Công H còn có hành vi ném xuống đất làm vỡ hỏng màn hình chiếc điện thoại di động N3- 1034 của anh Trịnh Đình N2 (trị giá thiệt hại phải thay màn hình là 150.000 đồng); hành vi của Nguyễn Công H đã phạm tội Hủy hoại tài sản (với tổng trị giá thiệt hại tài sản là 3.350.000 đồng), tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự; Bản án sơ thẩm đã quy kết bị cáo H theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân, bày tỏ thái độ ăn năn hối cải, giữ nguyên kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

  3. Bị cáo Nguyễn Công H phạm tội độc lập, không có đồng phạm và không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo H có nhân thân tốt, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “gây thiệt hại không lớn”, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “đầu thú”, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo các điểm h, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đã được Bản án sơ thẩm áp dụng cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử xem xét về việc bị cáo Nguyễn Công H “đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia quân đội bảo vệ Tổ Quốc” và “bố của bị cáo là Thương B1 hạng 4/4”, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  4. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo để áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn và không cho bị cáo H hưởng án treo là có căn cứ, đúng pháp luật; bị cáo H phạm tội có tính chất côn đồ, cùng các đối tượng khác hành hung người bị hại, gây hỗn loạn, mất trật tự trong cộng đồng dân cư và sau khi người bị hại bỏ chạy do bị tấn công, bị cáo H đã chiếm đoạt và hủy hoại tài sản nên cần buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng nhằm giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung; vì vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội trình bày tại phiên tòa phúc thẩm về việc cho bị cáo hưởng án treo. Do bị cáo Nguyễn Công H có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và được áp dụng bổ sung các tình tiết mới về việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo tại cấp phúc thẩm nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng bổ sung khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm học tập, cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội.

  5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  6. Kháng cáo được chấp nhận một phần và Cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm nên bị cáo Nguyễn Công H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết về án phí Tòa án.

  7. Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2024/HS- ST ngày 20/3/2024 của Toà án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đối với bị cáo Nguyễn Công H:

    - Áp dụng khoản 1 Điều 178, các điểm h, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H 03 (ba) tháng tù về tội Hủy hoại tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt hoặc tự nguyện thi hành án.

  2. Bị cáo Nguyễn Công H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

  3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về bồi thường dân sự, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân:

  • - VKSND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Công an quận Đống Đa;
  • - TAND quận Đống Đa;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa;
  • - Bị cáo kháng cáo;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

PHẠM NĂNG THÀNH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 574/2024/HS-PT ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 574/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Công H phạm tội Hủy hoại tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger