Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 574/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07-5-2024

Về việc: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Khanh
  2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vui - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 145/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh V, sinh năm 1991;

Địa chỉ: D Ấp F, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn: Ông Cao Đăng H, sinh năm 1990;

Địa chỉ: D Ấp F, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh V trình bày:

Bà và ông Cao Đăng H tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 53/2018 ngày 02/4/2018 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H cấp.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Ông H không đi làm, ham chơi, không có trách nhiệm với gia đình, một mình bà phải lo cho con. Cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng, không chia sẻ được với nhau làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, thể chất và tinh thần của bà.

Mặc dù bà đã cho ông H nhiều cơ hội nhưng ông H không cố gắng thay đổi, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay bà không còn tình cảm với ông H, không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân và cũng không thể chung sống với ông H được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên là Cao Đăng P, sinh ngày 30/5/2018. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu P.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn ông Cao Đăng H trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Thanh V tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 53/2018 ngày 02/4/2018 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H cấp.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn đúng như bà V trình bày. Tuy nhiên, ông vẫn còn thương vợ con nên mong muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng, không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung tên là Cao Đăng P, sinh ngày 30/5/2018. Trường hợp Toà án giải quyết cho ly hôn, ông đồng ý giao cháu P cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành và tham gia tố tụng đều tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Bà V và ông H là vợ chồng hợp pháp từ ngày 02/4/2018. Trong quá trình chung sống, ông H thừa nhận vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn như bà V trình bày. Ông H không đồng ý ly hôn nhưng từ năm 2020 đến nay, ông H không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Tại phiên toà, mặc dù bà V đã được Hội đồng xét xử động viên tạo cơ hội cho ông H hàn gắn tình cảm nhưng bà V cương quyết muốn ly hôn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V đối với ông H. Về con chung: Có 01 con chung tên là Cao Đăng P, sinh ngày 30/5/2018. Hai bên thống nhất bà V là người trực tiếp nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[I] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa bà V và ông H là tranh chấp về việc “ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; ông H có nơi cư trú tại huyện H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[II] Về nội dung vụ án:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà V và ông H tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn. Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 53/2018 ngày 02/4/2018 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, có đủ cơ sở xác định, bà V và ông H là vợ chồng hợp pháp.

    Xét yêu cầu ly hôn của bà V đối với ông H: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hoà giải để các đương sự có cơ hội đoàn tụ, hàn gắn nhưng bà V vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông H. Tại phiên toà, bà V trình bày trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã; ông H không thương vợ, không quan tâm đến con cái. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà V và ông H đã trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà V về việc ly hôn với ông H.

  2. Về con chung: Bà V và ông H xác định, vợ chồng ông bà có 01 con chung tên là Cao Đăng P, sinh ngày 30/5/2018.

    Các bên đều thống nhất giao cháu H cho bà V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung cho bà V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà V và ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà V phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh V được ly hôn với ông Cao Đăng H.
  2. 2. Về con chung: Bà V và ông H có 01 con chung tên Cao Đăng P, sinh ngày 30/5/2018. Giao cháu P cho bà V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.
  3. 3. Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

    Vì lợi ích của con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

  4. 4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà V và ông H không yêu cầu Toà án giải quyết.
  5. 5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0024023 ngày 20/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn (đã nộp đủ).
  6. 6. Nguyên đơn, bị đơn (có mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  7. 7. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - Chi cục THADS huyện Hóc Môn;
  • - Cơ quan thực hiện ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 574/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 574/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRANH NHẬN YÊU CẦU CỦA NGUYÊN ĐƠN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger