TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 574/2024/HS-PT Ngày 19 tháng 7 năm 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Đức Phương.
Các Thẩm phán:Bà Huỳnh Thanh Duyên.
Ông Nguyễn Văn Tửu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 298/2024/TLPT-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo Lê Châu Nhựt M phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Do có kháng cáo của bị cáo Lê Châu Nhựt M và bị hại Trương Quan N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 484/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 6 năm 2024.
Bị cáo có kháng cáo: Lê Châu Nhựt M, sinh năm 1994 tại tỉnh Cà Mau (có mặt).
Nơi cư trú: Ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Kinh doanh bất động sản; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng D và Châu Thị Minh K; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 31/3/2023, sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Đặng Thị Hồng H, Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Bị hại có kháng cáo: Ông Trương Quan N, sinh năm 1993.
Nơi cư trú: Số A, đường B, Khóm F, Phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
1
Bị hại không có kháng cáo:
- Ông Sử Minh Q, sinh năm 1962. Nơi cư trú: Ấp H, xã P, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Bà Trần Kim T, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Kênh R, Khóm A, Phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Số D, đường G, Khóm F, Phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Diệp Thanh H1, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Khóm B, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
Trong vụ án, có một số bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, cũng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/3/2023, bà Diệp Thanh H1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C tố giác ông Sử Minh Q có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của Bà là diện tích 426.807,6m² đất tại ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Kết quả điều tra xác định: Lê Châu Nhựt M đã thực hiện hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; thực hiện hành vi gian dối lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
- Hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Sử Minh Q.
Bà Diệp Thanh H1 đang quản lý, sử dụng 426.807,6m² đất tại ấp L, xã T, huyện Đ nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ). Tháng 6/2022, bà H1 thuê ông Sử Minh Q lập thủ tục xin cấp giấy CNQSDĐ đất trên cho bà, với chi phí thỏa thuận 200.000.000 đồng. Do quen biết trước nên ông Q liên hệ với Lê Châu Nhựt M để thuê lại. M cho biết có quen biết nhiều người nên làm được giấy CNQSDĐ. Ông Q tin tưởng nên giao các giấy tờ liên quan đến đất cho M và thống nhất chi phí 150.000.000 đồng nhưng lập Hợp đồng 200.000.000 đồng. M liền lên trang mạng xã hội (Zalo) kết bạn với người có tài khoản tên “L”, đặt làm giấy CNQSDĐ giả cho bà H1 đứng tên với giá thoả thuận 8.000.000 đồng. M chuyển 500.000 đồng tiền đặt cọc vào tài khoản số [...], tên Dương Hoàng C mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S-Chi nhánh Q1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau đó, M liên hệ ông Q và ngày 04 và 05/10/2022, ông Q chuyển 51.000.000 đồng vào tài khoản số 60619999 của Lê Châu Nhựt M mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1-Chi nhánh A. Ông Q liên hệ bà H1, từ ngày 03/10 đến 24/10/2022, bà H1 chuyển 100.000.000 đồng vào tài khoản số 7505205209407 của ông Q mở tại Ngân hàng N3-Chi nhánh C1.
2
Ngày 25/11/2022, M chụp hình phôi giấy CNQSDĐ ghi tên Diệp Thanh H1 chưa có người ký và đóng dấu gửi qua zalo của ông Q và nói: Bà H1 không đủ điều kiện để được cấp giấy CNQSDĐ; phần đất thuộc quyền quản lý của Cơ quan Đảng ủy Dân chính đảng tỉnh C, Ủy ban nhân dân huyện Đ có phương án thu hồi và cấp cho người khác. Nếu ông Q đồng ý đưa cho M 900.000.000 đồng thì M sẽ làm giấy CNQSDĐ cho ông Q đứng tên, nghe vậy ông Q đồng ý.
Từ ngày 10 đến ngày 12/12/2022, M tiếp tục chuyển vào số tài khoản 060277618081 cho bên nhận làm giấy CNQSDĐ số tiền 8.000.000 đồng để làm giấy CNQSDĐ giả, cho ông Q đứng tên. Ngày 16/12/2022, nhận được giấy CNQSDĐ giả ghi tên ông Q do bên làm giấy gửi cho M bằng dịch vụ Công ty X thì M yêu cầu ông Q chuyển tiền, ông Q đã chuyển 79.000.000 đồng vào tài khoản số 60619999 của M.
Ngày 28/12/2022, M gặp ông Q đưa giấy CNQSDĐ giả số CB 603221, tên Sử Minh Q, diện tích 426.807,6m² chưa ghi ngày tháng năm. Thấy giấy CNQSDĐ chưa ghi ngày tháng năm và chưa tách phần diện tích đất của con bà Hóa ra như thỏa thuận, ông Q thắc mắc thì M nói: Chủ yếu đã ký tên đóng dấu. M tự lấy viết ra ghi ngày 28/12/2022 vào giấy CNQSDĐ, ông Q chụp hình lại giấy nhưng ông Q không nhận nên M đem về sau đó thì M huỷ bỏ. M hứa làm lại giấy khác có tách diện tích đất của con bà Hóa ra, phần diện tích còn lại trong đó có chuyển mục đích đất nuôi trồng thủy sản sang đất thổ cư như thoả thuận. M nói: Chuyển đất nuôi trồng thủy sản sang đất thổ cư phải đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất số tiền 225.000.000 đồng, ông Q đồng ý.
Ngày 17/01/2023, M nhận được Thông báo nộp tiền số 295/TB-CT (CTT) do bên làm giấy giả gửi cho M qua dịch vụ Công ty X. M chụp hình gửi qua zalo cho ông Q và yêu cầu ông Q nộp tiền thuế 225.000.000đ. Tin là thật nên ông Q chuyển vào tài khoản số 60619999 của M 125.000.000 đồng và ngày 02/02/2023 chuyển 100.000.000 đồng. Ngày 08/02/2023, M tiếp tục chuyển tiền đặt cọc số tiền 500.000 đồng, làm giấy CNQSDĐ giả cho ông Q phần diện tích đất 366.623,1m². Ngày 10/02/2023, M chuyển thanh toán 7.500.000 đồng còn lại vào tài khoản số [...] theo yêu cầu của bên nhận làm giấy giả. Ngày 14/02/2023, ông Q gửi qua Zalo giấy CNQSDĐ phần diện tích 426.807,6m² tên Sử Minh Q cho bà Huỳnh Thị Kim D1 là Công chứng viên Văn phòng C2, nhờ kiểm tra. Bà D1 cho ông Q biết là bà nghi ngờ giấy giả vì chưa thấy có trên hệ thống.
Ngày 17/3/2023, M nhận được giấy CNQSDĐ giả số CB603221, ghi ngày 02/02/2023, tên Sử Minh Q, diện tích 366.623,1m² do bên làm giấy gửi cho M bằng dịch vụ Công ty X. Ngày 20/3/2023, M đưa giấy CNQSDĐ nêu trên cho ông Q, ông Q nhận mang về cất giữ cho đến khi bị Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ.
Như vậy, Lê Châu Nhựt M đã sử dụng 02 Giấy CNQSDĐ giả, 01 thông báo nộp thuế giả, thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt của ông Quân số tiền 500.000.000 đồng.
3
- Hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà Trần Kim T.
Do có quen biết với ông Sử Minh Q, ngày 18/02/2022, bà Trần Kim T nhờ ông Q làm thủ tục tách thửa đối với phần đất 147,8m2 tại Khóm D, Phường H, thành phố C. Quân giới thiệu qua M, M nhận làm và thoả thuận chi phí 12.000.000 đồng. Thông qua mạng zalo tên “L”, M đặt làm giả Thông báo nộp thuế và giấy CNQSDĐ giả tên Trần Kim T với giá 8.000.000 đồng. Sau khi nhận được Thông báo nộp thuế số 325/TB-CT (CTT) M chụp hình gửi Thông báo nộp thuế qua tin nhắn zalo cho ông Q, nhờ Q yêu cầu bà T nộp thuế số tiền 28.000.000 đồng.
Ngày 28/02/2023, bà T đưa cho ông Q 28.000.000 đồng và ông Q chuyển qua tài khoản số 60619999 cho M số tiền 28.000.000 đồng. Ngày 05/3/2023, M nhận giấy CNQSDĐ giả tên Trần Kim T, qua dịch vụ Công ty X. M chụp hình Giấy CNQSDĐ gửi qua zalo cho ông Q, ông Q gửi qua zalo cho bà T. Thấy phần đất 147,8m² chưa được tách theo yêu cầu của mình nên bà T không nhận và yêu cầu M làm lại.
Như vậy, Lê Châu Nhựt M đã sử dụng 01 Thông báo nộp thuế giả, thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt của bà T số tiền 28.000.000 đồng.
- Hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; lừa đảo chiếm đoạt tiền làm hồ sơ của ông Nguyễn Minh T1.
Ông Nguyễn Minh T1 quen biết với ông Trương Quan N, ông N quen biết với Lê Châu Nhựt M. Ngày 27/7/2022, ông T1 thuê ông N lập thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần đất 4.414,2m², tại Khóm F, Phường I, thành phố C, với chi phí 120.000.000 đồng, trong đó có chuyển mục đích sử dụng từ 150m² lên 300m² đất thổ cư. Ngày 18/8/2022, ông T1 đưa cho ông N 20.000.000 đồng.
Ngày 21/11/2022, ông N liên hệ và thuê lại M với chi phí 30.000.000 đồng, ông N đưa trước cho M 10.000.000 đồng. Ngày 28/12/2022, M đến Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C, yêu cầu trích lục bản vẽ đối với phần đất của ông T1, nhưng không thực hiện được, vì phần đất nêu trên ông T1 bán cho nhiều người nên phải đo đạc lại. Ngày 11/01/2023, ông N chuyển vào tài khoản số 60619999 của M số tiền 10.000.000 đồng.
Sau đó, thông qua Z tên “L” M đặt làm giả Thông báo nộp thuế và Giấy CNQSDĐ giả tên ông T1. Ngày 13/3/2023, nhận được Thông báo nộp thuế giả số 2985/TB-CT (CTT), M gửi cho ông T1 và yêu cầu ông T1 nộp tiền thuế 28.000.000 đồng. Ngày 15/3/2023, ông T1 đưa cho ông N 28.000.000 đồng và ông N đưa lại cho M. Ngày 15 và 16/3/2023, M chuyển 8.000.000 đồng vào tài khoản 060277618081 cho bên làm giấy giả. Ngày 17/3/2023, M nhận được Giấy CNQSDĐ giả số DC295318, ghi cấp ngày 16/3/2022, tên Nguyễn Minh T1 từ dịch vụ Công ty X. Ngày 18/3/2023, M giao giấy CNQSDĐ nêu trên cho ông N.
Ngày 23/3/2023, ông N giao giấy CNQSDĐ giả nêu trên cho ông T1 và nhận 52.000.000 đồng. Ngày 03/4/2023, ông T1 mang giấy CNQSDĐ số
4
DC295318 đến Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C, yêu cầu thực hiện đo đạc thì bị phát hiện giấy giả và bị thu giữ.
Như vậy, Lê Châu Nhựt M đã sử dụng 01 Giấy CNQSDĐ giả, 01 thông báo nộp thuế giả, thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt của ông T1 số tiền 48.000.000 đồng.
Kết luận giám định số 157/KL-KTHS ngày 19/4/2023 và Kết luận giám định số 172/KL-KTHS ngày 26/4/2023 của Phòng Kỹ thuật Công an tỉnh C, kết luận: Phôi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 603221, họ tên Sử Minh Q, ngày 02/02/2023 (ký hiệu A1) là giả. Hình dấu tròn màu đỏ trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) không phải do con dấu có hình dấu mẫu trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M2) đóng ra. Chữ ký phía dưới chữ ký có họ tên Nguyễn Công N1 (Phó Giám đốc Văn phòng Đ) trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) so với chữ ký, phía dưới chữ ký có họ tên Nguyễn Công N1 trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M3; M4; M5) là không phải do cùng một người ký ra.
Phôi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 295318, họ tên Nguyễn Minh T1, ngày 16/3/2022 (ký hiệu A1) là giả. Hình dấu tròn màu đỏ trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) không phải do con dấu có hình dấu mẫu trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M2) đóng ra. Chữ ký phía dưới chữ ký có họ tên Nguyễn Công N1 trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) so với chữ ký, phía dưới chữ ký có họ tên Nguyễn Công N1 trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M3; M5) là không phải do cùng một người ký ra.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, quyết định:
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 54, Điều 55 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Lê Châu Nhựt M phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tuyên phạt: Bị cáo Lê Châu Nhựt M 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và 07 (bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; hình phạt chung cho hai tội bị cáo Lê Châu Nhựt M phải chấp hành là 09 (chín) năm tù; thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 31/3/2023.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 26/3/2024, bị cáo Lê Châu Nhựt M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 26/3/2024, bị hại Trương Quan N kháng cáo yêu cầu Lê Châu Nhựt M phải trả số tiền 48.000.000 đồng.
5
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Châu Nhựt M rút toàn bộ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt về hai tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đồng thời, trình bày: Có nhận của ông Trương Quan N 48.000.000 đồng để làm giấy CNQSDĐ đứng tên Nguyễn Minh T1 (gồm nhận 38.000.000 đồng tiền mặt và 10.000.000 đồng chuyển vào tài khoản số 60619999 của M) và đồng ý trả ông N số tiền 48.000.000 đồng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:
Bị cáo đã rút toàn bộ kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm, việc rút kháng cáo là tự nguyện, đúng pháp luật; đồng thời, bị cáo cũng tự nguyện trả cho ông Trương Quang N2 số tiền đã chiếm đoạt là 48.000.000 đồng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo M và ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo M trong việc trả cho ông Trương Quang N2 số tiền 48.000.000 đồng.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Châu Nhựt M trình bày: Bị cáo M tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo và đồng ý trả cho ông Trương Quang N2 48.000.000 đồng. Đây là ý chí của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo và ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo M trong việc trả cho bị hại, ông Trương Quang N2 số tiền 48.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
- Bị cáo Lê Châu Nhựt M và bị hại Trương Quan N kháng cáo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Châu Nhựt M đã rút toàn bộ kháng cáo, xét thấy việc rút kháng cáo là tự nguyện, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị khác. Vì vậy, căn cứ khoản 3 Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ xét xử đối với phần kháng cáo mà bị cáo M đã rút tại phiên tòa.
- Đối với kháng cáo của bị hại, ông Trương Quan N, thấy rằng:
- Tại phiên tòa, bị cáo Minh xác n có nhận của ông Trương Quan N 48.000.000 đồng để làm giấy CNQSDĐ đứng tên Nguyễn Minh T1 (gồm nhận 38.000.000 đồng tiền mặt và 10.000.000 đồng chuyển vào tài khoản số 60619999 của M) và đồng ý trả ông Trương Quan N số tiền 48.000.000 đồng. Đây là sự tự nguyện của bị cáo M, phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Như vậy, mặc dù, ông Trương Quan N không có mặt tại phiên tòa nhưng đơn kháng cáo, ông N chỉ yêu cầu bị cáo M trả lại số tiền 48.000.000 đồng nên kháng cáo của ông N đã được chấp nhận và quyền lợi đã được đảm bảo.
6
- Từ những nội dung nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát; đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lê Châu Nhựt M; chấp nhận kháng cáo của ông Trương Quan N; Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc trả cho ông N 48.000.000 đồng; sửa bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự. Bị cáo M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm, ông N không phải chịu án phí.
- Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lê Châu Nhựt M.
- Chấp nhận kháng cáo của ông Trương Quan N.
- Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau về phần trách nhiệm dân sự.
- Buộc bị cáo Lê Châu Nhựt M có trách nhiệm trả cho ông Trương Quan N số tiền 48.000.000 (Bốn mươi tám triệu) đồng.
- Về án phí hình sự phúc thẩm:
Bị cáo Lê Châu Nhựt M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Ông Trương Quan N không phải chịu án phí và được trả lại 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, tại Biên lai thu số 0000138 ngày 08/4/ 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau.
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi
| nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đức Phương |
8
Bản án số 574/2024/HS-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 574/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đình chỉ xét xử phúc thẩm, sửa một phần bản án sơ thẩm
