|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 574/2024/DS-PT
Ngày: 13 - 11 - 2024
Về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Văn Ngọt |
| Các Thẩm phán: | Ông Phan Thanh Tòng |
| Ông Phạm Văn Tỉnh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Phương Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Phấn – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 308/2024/DS-PT ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 102/2024/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến tre, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3901/2024/QĐPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 4138/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng T, sinh năm: 1966; (Có mặt).
Địa chỉ: A, ấp N, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn:
1. Ông Phạm Văn C, sinh năm: 1969; (Ông C được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt).
2. Bà Đặng Thị Việt N, sinh năm: 1966; (Có mặt).
Cùng địa chỉ: A, ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T và bị đơn bà Đặng Thị Việt N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T trình bày:
Do có quen biết nên bà T có cho bà Đặng Thị Việt N vay tiền trong nhiều lần:
- Lần 01: ngày 28/12/2022 cho vay số tiền 350.000.000 đồng, lãi suất hai bên thỏa thuận là 1,6%/tháng, thời hạn vay theo hợp đồng là 01 tháng kể từ ngày 28/12/2022 đến ngày 28/01/2023 nhưng thực tế các bên thỏa thuận thời hạn vay 03 tháng. Việc vay tiền này được hai bên ký tên tại Phòng C1, địa chỉ số D đường số C, ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo số công chứng 2304, quyển số 12/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/12/2022. Sau khi vay được tiền bà N trả cho bà được 01 tháng tiền lãi đầu tiên số tiền 5.225.000 đồng.
- Lần 02: ngày 28/01/2023, cho vay số tiền là 130.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, lãi suất 1,5%/tháng, bà N viết giấy tay có chữ ký của bên giao tiền và bên nhận tiền.
- Lần 03: ngày 28/3/2023, cho vay số tiền 220.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, bà N viết giấy tay chốt lại số nợ 03 lần đã vay tổng cộng 700.000.000 đồng, lãi suất 1,5%/tháng.
Quá trình vay, bà N có thế chấp cho bà T Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 800380, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CS06950, do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 02/8/2018. Thửa đất số 814, tờ bản đồ số 09, diện tích 2.327,9m², tọa lạc tại xã M, thành phố B. Giấy chứng nhận QSDĐ nêu trên do bà Đặng Thị Việt N và chồng là ông Phạm Văn C đứng tên.
Đến hạn trả tiền, bà N không thực hiện trả nợ như thỏa thuận dù bà T đã nhiều lần yêu cầu. Khi bà T cho bà N vay tiền không có mặt ông C do bà N có trình bày phần đất là của bà N để bà N tự giải quyết, ông C không có quyền gì đối với thửa đất. Bà T cũng không có chứng cứ chứng minh bà N vay tiền để phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình. Tuy nhiên, do bà N và ông C là vợ chồng, việc vay tiền xảy ra trong thời kỳ hôn nhân nên ông C phải có trách nhiệm liên đới với bà N.
Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xem xét, giải quyết buộc bà Đặng Thị Việt N và ông Phạm Văn C có trách nhiệm liên đới trả cho bà T số tiền vay 700.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi số tiền trên theo lãi suất 1,5%/tháng kể từ ngày 28/4/2023 đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án, số tiền lãi tính tròn đến khi xét xử sơ thẩm là 154.000.000 đồng. Tổng cộng: 854.000.000 đồng
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Đặng Thị Việt N trình bày:
Do quen biết bà có vay tiền của bà Lê Thị Hồng T trong nhiều lần từ năm 2019 nhưng bà không nhớ rõ thời gian. Số tiền vay tổng cộng chỉ có 35.000.000 đồng. Lãi suất vay 10%/tháng, vay không thời hạn. Bà vay tiền để tiêu xài cá nhân nên không cho ông C biết. Bà có thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T để làm tin. Do bà không có khả năng trả nợ, ngày 28/12/2022 bà T yêu cầu bà đến Văn phòng C2 để ký Hợp đồng vay tài sản, cộng số tiền vốn và lãi bà còn nợ thành số tiền vay 350.000.000 đồng. Giấy mượn tiền và cam kết do bà T cung cấp là do bà T ép bà viết và ký tên. Số tiền vay 700.000.000 đồng theo Giấy mượn tiền và cam kết là tiền lãi cộng gộp vào tiền vốn, không phải số tiền bà vay của bà T. Do đó bà chỉ đồng ý trả cho bà T số tiền 35.000.000 đồng và đồng ý trả lãi số tiền trên theo lãi suất 1.5%/tháng kể từ 01/6/2019 đến khi xét xử.
Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 20/5/2024, bị đơn ông Phạm Văn C trình bày:
Bà T khởi kiện yêu cầu ông và bà Đặng Thị Việt N có trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền 700.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 28/4/2023 đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án theo lãi suất 1,5%/tháng. Tuy nhiên, ông không biết gì về việc vay tiền giữa bà N với bà T. Quá trình vay tiền bà T cũng không thông qua ý kiến của ông, không có sự đồng ý của ông. Do đó ông không đồng ý chịu trách nhiệm liên đới với bà N để trả số nợ theo yêu cầu của bà T.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân thành phố Bến tre đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 102/2024/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Bến tre quyết định:
Căn cứ khoản 2 Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469, Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T: Buộc bà Đặng Thị Việt N có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Hồng T số tiền 834.295.600 (Tám trăm ba mươi bốn triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm) đồng gồm 700.000.000 (Bảy trăm triệu) đồng tiền gốc và 134.295.600 (Một trăm ba mươi bốn triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm) đồng tiền lãi.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng T về việc yêu cầu bà Đặng Thị Việt N trả số tiền lãi là 19.704.400 (Mười chín triệu bảt trăm lẻ bốn nghìn bốn trăm) đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng T về việc yêu cầu ông Phạm Văn C chịu trách nhiệm liên đới trả nợ với bà Đặng Thị Việt N.
4. Ghi nhận việc bà Lê Thị Hồng T tự nguyện trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 814 tờ bản đồ số 09 tại xã M cho bà Đặng Thị Việt N và ông Phạm Văn C.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm trả, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, bị đơn bà Đặng Thị Việt N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T về việc buộc bà có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Hồng T số tiền vay gốc 700.000.000 đồng và tiền lãi là 134.295.600 đồng. Bà N chỉ đồng ý trả cho bà T số tiền 35.000.000 đồng và số tiền lãi suất 1.5%/tháng kể từ ngày 01/6/2019 đến khi xét xử.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần Bản án sơ thẩm theo hướng: Buộc vợ chồng bà Đặng Thị Việt N và ông Phạm Văn C có trách nhiệm liên đới trả cho bà T số tiền 700.000.000 đồng và tiền lãi theo thỏa thuận và lãi theo quy định kể từ ngày 25/7/2024 cho đến ngày xét xử phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn bà Đặng Thị Việt N giữ nguyên kháng cáo, nguyên đơn không đồng ý kháng cáo của bị đơn; nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T tự nguyện rút một phần kháng cáo yêu cầu tính lãi kể từ ngày 24 tháng 7 năm 2024 đến ngày xét xử phúc thẩm; bà T giữ nguyên kháng cáo phần yêu cầu ông Phạm Văn C liên đới cùng bà Đặng Thị Việt N trả nợ cho bà. Bị đơn không đồng ý kháng cáo của nguyên đơn. Các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ. Kháng cáo của phía bị đơn không có cơ sở để chấp nhận. Kháng cáo của nguyên đơn có cơ sở một phần nên được chấp nhận một phần. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị Việt N, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T; Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 102/2024/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến tre, tỉnh Bến Tre theo hướng buộc ông C có trách nhiệm liên đới cùng bà N trả cho bà T số nợ vay vốn là 700.000.000 đồng và số tiền lãi là 134.295.000 đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm phần kháng cáo yêu cầu tính lãi kể từ ngày xét xử sơ thẩm đến ngày xét xử phúc thẩm mà bà T đã rút tại phiên tòa phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bà N và bà T, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn bà Đặng Thị Việt N và nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T kháng cáo và gửi thủ tục kháng cáo hợp lệ trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bị đơn ông Phạm Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông C vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C.
[2] Về nội dung:
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Đặng Thị Việt N thừa nhận có vay của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T nhiều lần, thừa nhận chữ viết và chữ ký trong các chứng cứ (Hợp đồng vay tiền, Giấy mượn tiền) do nguyên đơn cung cấp là của bà N, tuy nhiên bà N chỉ thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền là 35.000.000 đồng. Căn cứ lời thừa nhận của bị đơn có cơ sở xác định bị đơn có vay và còn nợ tiền của nguyên đơn, tuy nhiên giữa nguyên đơn và bị đơn không thống nhất số tiền vay, tiền nợ.
Xét chứng cứ nguyên đơn cung cấp là bản chính Hợp đồng vay tiền lập ngày 28/12/2022 (Bút lục 31-33) và bản chính tờ giấy có tựa “Giấy mượn tiền và cam kết” lập ngày 28/3/2023 (Bút lục 34-3) có nội dung thể hiện bà N vay số tiền 350.000.000 đồng vào ngày 28/12/2022, 130.000.000 đồng vào ngày 28/01/2023 và 220.000.000 đồng vào ngày 28/3/2023, tổng số tiền vay là 700.000.000 đồng. Trong tờ giấy có tựa “Giấy mượn tiền và cam kết” lập ngày 28/3/2023 (Búc lục 34-3) đoạn cuối thể hiện bà N thỏa thuận trong vòng 30 ngày kể từ ngày 28/3/2023 sẽ trả cho bà T số tiền 700.000.000 đồng. Nhận thấy, theo chứng cứ trên thể hiện bà N vay của bà T 700.000.000 đồng, quá trình giải quyết bị đơn bà Đặng Thị Việt N thừa nhận chữ viết và chữ ký trong Hợp đồng vay tiền, Giấy mượn tiền là bà N. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà N cũng thừa nhận nội dung này. Do đó, việc bà N cho rằng bà chỉ vay số tiền 35.000.000 đồng là không phù hợp.
Như vậy, có cơ sở xác định bà N có vay của bà T số tiền 700.000.000 đồng, do bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự, nguyên đơn kiện đòi là có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn bà Đặng Thị Việt N có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền 700.000.000 đồng và tiền lãi là đúng quy định.
[3] Xét kháng cáo của các bên:
[3.1] Bà N kháng cáo cho rằng bà chỉ vay số tiền 35.000.000 đồng nhưng không cung cấp chứng cứ gì khác so với giai đoạn xét xử sơ thẩm nên kháng cáo của bà N không có cơ sở chấp nhận.
[3.2] Bà T kháng cáo yêu cầu ông Phạm Văn C và bà Đặng Thị Việt N có trách nhiệm liên đới trả nợ cho bà. Hội đồng xét xử nhận thấy, bà N và ông C là vợ chồng hợp pháp, việc bà N vay tiền của bà T trong thời kỳ hôn nhân, ông C và bà N hiện sống chung nhà, không có chứng cứ chứng minh giữa ông C và bà N có thỏa thuận làm ăn kinh tế riêng, hơn nữa mục đích vay tiền ghi trong hợp đồng là để tiêu dùng... Ngoài ra, ông C và bà N cũng không có chứng cứ chứng minh việc bà N sử dụng số tiền vay trên vào mục đích riêng, do đó để đảm bảo quyền lợi của đương sự nên ông C phải có trách nhiệm liên đới cùng bà N trả số tiền vay trên cho bà T là phù hợp quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình, vì vậy kháng cáo của bà T là có cơ sở để chấp nhận.
[3.3] Đối với thời hạn tính lãi: Theo chứng cứ nguyên đơn cung cấp, thể hiện giao dịch vay tiền giữa các bên có thời hạn, đến ngày 28/3/2023 giữa bà T và bà N có thỏa thuận gia hạn thời hạn vay là 30 ngày kể từ ngày 28/3/2023 thì bà N sẽ trả cho bà T số tiền 700.000.000 đồng, như vậy đến ngày 28/4/2023 bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ngoài việc trả nợ gốc, lãi trong hạn và còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ. Nhận thấy, Tòa sơ thẩm tuyên buộc bị đơn trả lãi với tổng số tiền là 134.295.600 đồng (đối với số tiền là 480.000.000đồng, thời gian tính lãi từ 28/4/2023 đến khi xét xử sơ thẩm ngày 24/7/2024 (01 năm 02 tháng 26 ngày) lãi suất 1.5%/tháng; đối với số tiền 220.000.000 đồng, thời gian tính lãi từ 28/4/2023 đến khi xét xử sơ thẩm ngày 24/7/2024 (01 năm 02 tháng 26 ngày), lãi suất 10%/năm), ngoài ra còn tuyên buộc bị đơn phải trả lãi kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015... Xét thấy, so với quy định thì quyền lợi của nguyên đơn đã được đảm bảo.
[3.4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T tự nguyện rút kháng cáo đối với yêu cầu tính tiền lãi từ ngày xét xử sơ thẩm đến ngày xét xử phúc thẩm nên đình chỉ xét xử phúc thẩm phần rút kháng cáo này.
[4] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị Việt N; chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 102/2024/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo hướng buộc ông C có trách nhiệm liên đới cùng bà N trả cho bà T số nợ vay vốn là 700.000.000 đồng và số tiền lãi là 134.295.000 đồng.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí phúc thẩm:
Do kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T không phải chịu án phí phúc thẩm.
Do kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị Việt N không được chấp nhận nên bà Đặng Thị Việt N phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị Việt N;
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của bà Lê Thị Hồng T về yêu cầu tính lãi từ ngày xét xử sơ thẩm đến ngày xét xử phúc thẩm.
Sửa một phần Bản án Dân sự sơ thẩm số 102/2024/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ khoản 2 Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469, Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2026/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng T: Buộc bà Đặng Thị Việt N và ông Phạm Văn C có trách nhiệm liên đới trả cho bà Lê Thị Hồng T số tiền 834.295.600 đồng (Tám trăm ba mươi bốn triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm đồng) gồm 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) tiền gốc và 134.295.600 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn sáu trăm đồng) tiền lãi.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng T về việc yêu cầu bà Đặng Thị Việt N trả số tiền lãi là 19.704.400 đồng (Mười chín triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn bốn trăm đồng).
3. Ghi nhận việc bà Lê Thị Hồng T tự nguyện trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 814 tờ bản đồ số 09 tại xã M cho bà Đặng Thị Việt N và ông Phạm Văn C.
4. Về án phí sơ thẩm:
4.1. Bà Đặng Thị Việt N và ông Phạm Văn C phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 37.028.900 đồng (Ba mươi bảy triệu không trăm hai mươi tám nghìn chín trăm đồng).
4.2. Bà Lê Thị Hồng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 985.200 đồng (Chín trăm tám mươi lăm nghìn hai trăm đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.890.000 đồng (Mười bảy triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001044 ngày 01/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre hoàn lại cho bà bà Lê Thị Hồng T số tiền chênh lệch là 16.904.800 đồng (Mười sáu triệu chín trăm lẻ bốn nghìn tám trăm đồng).
5. Về án phí phúc thẩm:
5.1. Bà Lê Thị Hồng T không phải chịu án phí phúc thẩm. H lại cho bà Lê Thị Hồng T số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002757 ngày 13 ngày 8 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
5.2. Bà Đặng Thị Việt N phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002762 ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Bà N đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Phan Thanh Tòng | Phạm Văn Tỉnh | Phạm Văn Ngọt |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Ngọt |
Bản án số 574/2024/DS-PT ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 574/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
