Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 573/2023/HS-PT

Ngày 21 tháng 8 năm 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương.

Các Thẩm phán:

Bà Phạm Thị Duyên.

Ông Nguyễn Văn Tửu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 415/2023/TLPT-HS ngày 08 tháng 06 năm 2023, đối với các bị cáo: Nguyễn Văn G, Nguyễn Ngọc D, Trần Hải Đ về tội “Giết người”; Bị cáo Phan Minh Đ1 về tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích”; Các bị cáo: Đoàn V, Huỳnh Trần Thứ L, Nguyễn Văn H, Lê Hoàng T, Đinh Ngọc P về tội “Cố ý gây thương tích”; Các bị cáo: Võ Văn T1, Nguyễn Văn H1 về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 190/2023/HS-ST ngày 26 tháng 04 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1212/2023/QĐPT-HS ngày 02 tháng 8 năm 2023.

Đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo:

  1. Bà Lê Thị Kim D1, sinh năm 1960 (Có mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị Mỹ H2, sinh năm 1992 (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ A, Y, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lê Thị Kim D1 và bà Nguyễn Thị Mỹ H2: Luật sư Đặng Văn S, Văn phòng luật sư Đặng S và Cộng sự, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (Có mặt).

Bị cáo không có kháng cáo:

  1. Nguyễn Văn G, sinh năm 1996 tại Đồng Tháp (Có mặt).
  1. Trần Hải Đ, sinh năm 1998 tại Cần Thơ (Có mặt).

    Nơi thường trú: Khu vực H, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn C và bà Võ Thị H5; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giam từ ngày 07/8/2020.

  2. Nguyễn Ngọc D, sinh năm 2000 tại Tây Ninh (Có mặt).

    Nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị H6; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giam từ ngày 07/8/2020.

  3. Phan Minh Đ1, sinh năm 1993 tại Tây Ninh (Có mặt).

    Nơi thường trú: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Đầu bếp phụ; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Minh T2 và bà Thái Thị Kim L1; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giam từ ngày 30/12/2022.

  4. Huỳnh Trần Thứ L (tên gọi khác: N1), sinh năm 1998 tại Hậu Giang (Có mặt).

    Nơi thường trú: Ấp D, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Đầu bếp phụ; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn B và bà Trần Lệ N2; Có vợ và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại.

  5. Nguyễn Văn H (tên gọi khác: T3), sinh năm 1997 tại An Giang (Có mặt).

    Nơi thường trú: Ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang; NNghề nghiệp: Đầu bếp phụ; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao Đài; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H7 và bà Nguyễn Thị H8; Có vợ và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giam từ ngày 24/11/2022 trong vụ án khác tại Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  6. Đoàn Vũ T4 (tên gọi khác: M), sinh năm 1995 tại Tiền Giang (Có mặt).

    Nơi thường trú: Ấp F, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Nhân viên phục vụ; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Văn T5 và bà Nguyễn Thị Kim Đ2; Có vợ và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại.

  7. Lê Hoàng T, sinh ngày 04/01/2002 tại Đồng Nai (Có mặt).

    Nơi thường trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Đầu bếp phụ; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Tuấn H9 và bà Lê Thị L2; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại.

  8. Đinh Ngọc P (tên gọi khác: V), sinh năm 1998 tại Cần Thơ (Có mặt).

    Nơi thường trú: Ấp E, xã T, huyện C, Thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Đầu bếp phụ; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn M1 và bà Nguyễn Thị T6; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại.

  9. Võ Văn T1, sinh năm 1996 tại Tiền Giang (Có mặt).

    Nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Đầu bếp phụ; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn Đ3 và bà Huỳnh Thị H10; Có vợ và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại.

  10. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991 tại Vĩnh Long (Có mặt).

    Nơi thường trú: Ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Đầu bếp phụ; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N3 và bà Kiên Thị P1; Có vợ và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại.

Người bào chữa: Luật sư Trịnh Bá T7 và Nguyễn Thanh Bảo D2, Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa chỉ định cho các bị cáo: Nguyễn Văn G, Trần Hải Đ, Phan Minh Đ1 và Nguyễn Ngọc D (Có mặt).

Bị hại:

  1. Ông Vũ Ngọc L3, sinh năm 1985 (đã chết ngày 06/8/2020).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Bà Lê Thị Kim D1, sinh năm 1960 (Có mặt),

Bà Nguyễn Thị Mỹ H2, sinh năm 1992 (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ A, Y, quận H, Thành phố Hà Nội.

  1. Ông Ngô Hùng C1, sinh năm 1976 (Vắng mặt).

Địa chỉ: A K, quận T, Thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có kháng cáo, không bị kháng nghị cũng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ ngày 05/8/2020, anh Vũ Ngọc L3 cùng các anh Ngô Hùng C1, Tô Hải M2, Nguyễn Đình L4, Nguyễn Văn N4 và chị Trần Thị Mỹ D3 ngồi uống bia tại phòng Vip 9999 của quán ốc Sinh viên, địa chỉ số C L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại khu vực chòi lá, bàn B2 của quán lúc này có Phan Minh Đ1, Đoàn Vũ T4, Huỳnh Trần Thứ L và chị Nguyễn Thị Thanh T8 cũng đang ngồi uống bia (T4, Đ1, L và T8 là nhân viên quán, tan ca ở lại quán ăn uống).

Đến khoảng 0 giờ 15 phút ngày 06/8/2020, khi đi vệ sinh, Đ1 và anh L3 va vào người nhau, Đ1 nhìn anh L3 nhưng không nói gì rồi bỏ đi về bàn tiếp tục ngồi uống bia. Khoảng 0 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của anh L3 ra về, khi đến chỗ lấy xe, anh L3 nói để quên nón lưỡi trai nên quay lại quán tìm, anh C1, anh N4 cũng đi theo sau anh L3 vào quán. Do không tìm thấy nón nên anh L3 đi qua bàn B2 chỗ nhóm của Đ1 đang ngồi và anh L3 hỏi Đ1: “Lúc nãy mày nhìn tao cái gì?”. Đ1 chưa kịp trả lời thì anh L3 dùng tay đánh vào mặt Đ1. Tức giận, Đ1 cùng T4, L cầm ly thủy tinh, vỏ chai bia đánh lại anh L3. Nguyễn Văn D4 (nhân viên phụ bếp) đang làm việc tại quán thấy xảy ra đánh nhau nên đã chạy vào kho lấy 1 cây gỗ dài khoảng 1,2 mét sơn màu đỏ trắng chạy đến hỗ trợ nhóm Đ1 đánh anh L3. Lê Hoàng T, Võ Văn T1, Nguyễn Văn H, Đinh Ngọc P, Nguyễn Văn H1 cũng cầm cây gỗ (giống như D4) và ly thủy tinh cùng xông vào đánh nhau với anh L3. Anh C1 chạy vào can ngăn thì bị Đ1, T4, L, H, P, T đánh. Anh C1 và Đ1 ôm vật nhau tại bàn B2, anh C1 vùng vẫy chạy ra ngoài nên Đ1 đuổi theo ra đến cổng quán thì quay trở vào. Anh N4 cũng chạy đến can ngăn giúp anh L3 nhưng bị nhân viên của quán cản lại nên anh N4 bỏ chạy ra ngoài.

Bên trong quán, anh L3 bị nhóm của D4 tiếp tục vây đánh và cầm cây rượt đuổi theo anh L3 đến cửa hầm rượu của quán. Lúc này, có 02 nhân viên phụ bếp của quán là Nguyễn Tuấn D5 và Đoàn Thanh Q cũng cầm cây tham gia đánh anh L3. Khi anh L3 bỏ chạy đến bàn E1 hướng ra cổng của quán thì bị Đ1 chặn lại dùng tay đánh làm anh L3 té ngã xuống sàn nhà cạnh bàn E1, D4 chạy đến cầm cây trên hai tay đánh liên tiếp 03 cái vào người anh L3 thì anh Nguyễn Đình L4 (bạn anh L3) chạy đến kéo D4 ra, D4 cầm cây rượt đuổi nên anh L4 bỏ chạy ra đường L. Nguyễn Văn G (là nhân viên bảo vệ của quán) thấy đánh nhau nên chạy vào phòng ngủ của G lấy một con dao tự chế (giống cây kiếm) dài khoảng 60 cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại chạy ra đâm hai nhát vào người của anh L3. Sau đó, G cầm kiếm đi vào trong quán tra kiếm vào vỏ rồi cầm kiếm đi ra ngoài cổng, H1 nhìn thấy nên giật lấy kiếm của L3 vào đưa lại cho Q cất vào kệ bếp.

Lúc này, Trần Hải Đ (nhân viên phụ bếp đã xuống ca) đang uống bia bên phòng trọ của mình (cạnh quán) thì nghe tiếng đánh nhau bên quán nên chạy sang thấy anh N4 từ trong quán chạy ra nên Đ chạy đến đánh nhau với anh N4, P cũng cầm cây gỗ từ trong quán chạy ra cùng Đ đánh anh N4, anh N4 bỏ chạy thì bị vấp ngã, Đ, P và D4 chạy đến đánh thì anh N4 tiếp tục bỏ chạy. Sau đó, Đ giật lấy cây của P rồi đi vào bên trong quán. Khi đi đến bàn E1, Đ nhìn thấy anh L3 đang nằm dưới sàn của quán, người chảy nhiều máu và thấy anh L3 vẫn cử động tay nên Đ đã cầm cây gỗ chọt từ trên xuống người L3 và dùng chân đạp vào người L3 một cái nhưng được mọi người can ngăn kéo Đ ra.

Thấy anh L3 bị thương nên nhóm của D4, G và các nhân viên trong quán đã hỗ trợ đưa anh L3 đi cấp cứu tại Bệnh viện M3, quận T, đến 01 giờ 50 phút cùng ngày anh L3 tử vong.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 1376-20/KLGÐ-PY ngày 29/9/2020 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận nguyên nhân chết của Vũ Ngọc L3 là do sốc mất máu không hồi phục do vết thương đâm đứt động mạch nách bên phải.

Bản kết luận giám định số: 1290/TgT.20 ngày 19/01/2021 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Thành phố H về thương tích của Ngô Hùng C1 như sau: Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn các sẹo tại vùng chẩm kích thước 10x0,1cm, có tỷ lệ 02%; Vùng dái tai kích thước 6x0,15 cm, có tỷ lệ 03%; Mặt sau giữa vành tai trái kích thước 2x0,15cm, có tỷ lệ 01%; Mặt trước giữa vành tai trái kích thước 1,2 x (0,1-0,2) cm, có tỷ lệ 01%; Vùng đỉnh vành tai trái kích thước 2,1x0,1cm, có tỷ lệ 01%; Mặt trong bàn chân trái kích thước 1,7x0,1cm, có tỷ lệ 01%. Các thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động. Vỏ chai bia bị bể và mảnh vỡ thủy tinh có thể gây ra được các thương tích trên. Vùng đỉnh sau phải kích thước 3 x (0,2-0,5)cm, có tỷ lệ 01%. Thương tích do vật tày, vật tày có cạnh, vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra. Vùng thái dương trái kích thước 5,2-0,1 cm, có tỷ lệ 02%. Thương tích do vật tày có cạnh, vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

Các đồ vật do Tòa án cung cấp đều có thể gây ra được các thương tích này. Các thương tích không nguy hiểm đến tính mạng của đương sự. Cộng lùi các tỷ lệ trên theo Thông tư 22/2019/TT-BYT sẽ ra tỉ lệ 11,4% làm tròn số sẽ là 11%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 190/2023/HS-ST ngày 26 tháng 04 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 18 (mười tám) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2020.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D 14 (mười bốn) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2020.

Xử phạt bị cáo Trần Hải Đ 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2020.

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 55 và và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phan Minh Đ1 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người” và 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt chung là 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/12/2022.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đoàn Vũ T9 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Trần Thứ L 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2022.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng T 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc P 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Võ Văn T1 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Căn cứ Điều 590, Điều 591 và Điều 593 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 30, khoản 2 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Trần Hải Đ, Nguyễn Văn G và Phan Minh Đ1 liên đới bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại Vũ Ngọc L3 số tiền là 357.143.740 đồng, cụ thể mỗi bị cáo với số tiền 89.285.935 đồng và liên đới cấp dưỡng 3.500.000/tháng cho bà Lê Thị Kim D1 từ ngày 06/8/2020 cho đến khi chết.

Tách việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của bị hại Ngô Hùng C1 để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự (nếu có yêu cầu).

Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 04/5 và ngày 10/5/2023, đại diện hợp pháp của bị hại Vũ Ngọc L3, bà Lê Thị Kim D1 và bà Nguyễn Thị Mỹ H2 kháng cáo cùng nội dung đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại thay đổi yêu cầu kháng cáo cụ thể như sau: Rút phần kháng cáo yêu cầu xem xét lại hình phạt đối với các bị cáo: Nguyễn Văn G, Nguyễn Ngọc D, Trần Hải Đ, Phan Minh Đ1 về tội “Giết người”. Giữ nguyên kháng cáo phần đối với các bị cáo bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Bà Lê Thị Kim D1 và bà Nguyễn Thị Mỹ H2 thống nhất trình bày: Các bị cáo bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” đều tham gia đánh bị hại trước khi G dùng dao đâm bị hại dẫn đến tử vong. Theo kết luận giám định thì nguyên nhân bị hại chết là do mất máu do bị dao đâm nhưng các bị cáo trên đã cùng đánh làm cho bị hại không đủ sức để chạy khỏi nơi nguy hiểm nên các bị cáo này phải cùng chịu trách nhiệm về tội “Giết người” mới đúng. Tòa án sơ thẩm xét xử các bị cáo này về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” là bỏ lọt tội phạm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại theo quy định.

Các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Ngọc D, Trần Hải Đ, Phan Minh Đ1 xác nhận: Đ1 là người làm cho bị hại ngã, sau đó G dùng dao đâm, D và Đ có đánh vào người bị hại. Các bị cáo khác có đánh nhau với bị hại nhưng trước khi bị hại bị G đâm.

Các bị cáo: Đoàn Vũ T9, Huỳnh Trần Thứ L, Nguyễn Văn H, Lê Hoàng T, Đinh Ngọc P, Võ Văn T1, Nguyễn Văn H1 trình bày: Sau khi G đâm vào người bị hại thì các bị cáo này không đánh bị hại. Việc đánh chỉ diễn ra khi bị hại chưa bị ngã và bị đâm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại đã rút phần kháng cáo yêu cầu xem xét lại hình phạt đối với các bị cáo: Nguyễn Văn G, Nguyễn Ngọc D, Trần Hải Đ, Phan Minh Đ1 về tội “Giết người”, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo đã rút tại phiên tòa.

Đối với kháng cáo đề nghị xem xét hành vi của các bị cáo khác về tội “Giết người”, Viện kiểm sát có ý kiến như sau:

Trong vụ án này có nhiều bị cáo tham gia. Tuy nhiên, các nhóm bị cáo chỉ thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định, cụ thể: Các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Ngọc D, Trần Hải Đ, Phan Minh Đ1 đã có hành vi giết người nên cơ quan tố tụng và Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo này về tội “Giết người”, trong đó xác định G là người sử dụng dao đâm chết bị hại là có căn cứ và tại phiên tòa, người kháng cáo cũng đề nghị không xem xét đối với các bị cáo này; Các bị cáo bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” tuy có tham gia đánh bị hại nhưng sau khi bị hại bị G đâm và ngã xuống sàn nhà thì không có bất kỳ tác động nào vào cơ thể bị hại. Vì vậy, căn cứ hành vi phạm tội, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo: Đoàn Vũ T9, Huỳnh Trần Thứ L, Nguyễn Văn H, Lê Hoàng T, Đinh Ngọc P về tội “Cố ý gây thương tích” và xét xử các bị cáo: Võ Văn T1, Nguyễn Văn H1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ.

Một số đối tượng khác có tham gia nhưng do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm hoặc chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên cơ quan điều tra không xử lý về hình sự là có căn cứ.

Từ những nội dung trên, người bảo vệ và đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm là không có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Kim D1, bà Nguyễn Thị Mỹ H2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày:

Hồ sơ vụ án thể hiện các bị cáo Đoàn Vũ T9, Huỳnh Trần Thứ L, Nguyễn Văn H, Lê Hoàng T, Đinh Ngọc P, Võ Văn T1, Nguyễn Văn H1 đã cùng đánh bị hại, phù hợp với trích xuất dữ liệu camera ghi tại hiện trường và thương tích trên thân thể bị hại. Hành vi của các bị cáo này đã làm cho bị hại không còn đủ sức khỏe để thoát khỏi sự truy đánh của các bị cáo, tạo điều kiện để G cầm dao đâm chết bị hại.

Như vậy, cơ quan điều tra không khởi tố các bị cáo này về tội “Giết người”, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo: Đoàn Vũ T9, Huỳnh Trần Thứ L, Nguyễn Văn H, Lê Hoàng T, Đinh Ngọc P về tội “Cố ý gây thương tích” và xét xử các bị cáo: Võ Văn T1, Nguyễn Văn H1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” là bỏ lọt tội phạm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại theo hướng các bị cáo này phạm tội “Giết người”.

Người bào chữa cho các bị cáo trình bày: Về phần tội danh luật sư không có ý kiến. Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù các bị cáo không kháng cáo, nhưng trong vụ án thể hiện phía bị hại có hành vi là lỗi một phần. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về yếu tố này cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị Kim D1, bà Nguyễn Thị Mỹ H2 kháng cáo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.
  2. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại rút một phần kháng cáo yêu cầu xem xét lại hình phạt đối với các bị cáo: Nguyễn Văn G, Nguyễn Ngọc D, Trần Hải Đ, Phan Minh Đ1 về tội “Giết người”. Việc rút một phần kháng cáo trên là tự nguyện, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo này.
  3. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo xác định đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm và hình phạt đối với các bị cáo là đúng nên các bị cáo không kháng cáo.
  4. Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định:

    [4.1] Vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 06/8/2020, tại quán Ố, địa chỉ C L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Do trước đó có va chạm trong lúc đi vệ sinh giữa anh L3 và bị cáo Đ1 nên hai bên đã xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau. Sau đó, anh L3 dùng tay đánh vào mặt Đ1. Lúc này, nhóm của Đ1 gồm T9, L, D, T, T1, H2, P dùng ly thủy tinh, cây gỗ xông vào đánh anh L3, anh C1 (là bạn của anh L3) vào can ngăn cũng bị đánh nên bỏ chạy. Mặc dù, anh L3 bị đánh và đã bỏ chạy nhưng Đ1 vẫn chặn lại và dùng tay đánh vào người làm anh L3 té ngã xuống nền nhà, tạo điều kiện cho các bị cáo D, Đ dùng cây gỗ đánh và G dùng dao tự chế đâm dẫn đến hậu quả anh L3 tử vong.

    [4.2] Trong lúc anh L3 và bị cáo Đ1 đánh nhau thì anh C1 (bạn anh L3) chạy vào can ngăn nên đã bị các bị cáo Đ1, L, T9, H2, T và P dùng cây gỗ, ly bia, vỏ chai bia đánh, ném. Hậu quả, anh C1 bị thương tích 11%. Khi biết đánh nhau, các bị cáo T1, H1 đã lấy cây gỗ chạy ra và thấy T9, D, Đ1, L đánh anh L3 nên T1, H1 cũng cầm cây đánh trúng người L3 rồi bỏ đi.

    [4.3] Theo kết quả giám định thì nguyên nhân anh L3 chết là do sốc mất máu không hồi phục do vết thương đâm đứt động mạch nách bên phải.

  5. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Các bị cáo D, Đ, G và Đ1 đã phạm vào tội “Giết người”, quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Các bị cáo Đ1, L, T9, H2, T và P đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Các bị cáo T1, H1 đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
  6. Xét kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại, thấy rằng:

    [6.1] Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, cơ quan tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

    [6.2] Trong vụ án này, có nhiều bị cáo tham gia với vai trò khác nhau. Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét hành vi của các bị cáo bị truy tố về tội “Giết người”, “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”, đồng thời xác định vai trò, cá thể hóa hình phạt của từng bị cáo trong các nhóm tội và xử phạt tù đối với các bị cáo là phù hợp với tích chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là đúng pháp luật.

    [6.3] Đối với Nguyễn Tuấn D5 và Đoàn Thanh Q, khi xảy ra đánh nhau thì Q chạy vào nhà bếp lấy cây gỗ chạy ra để tham gia thì bị D5 giật lấy cây. Lúc này, anh L3 đã bị đánh ngã xuống đất cạnh bàn E1 nên D5 đến đánh anh L3 một cái rồi bỏ đi, không tiếp tục tham gia đánh nhau. D5 và Q không biết G cầm dao đâm anh L3. Hành vi trên của D5, Q đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương nên có dấu hiệu của tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tuy nhiên, do khi thực hiện hành vi trên thì D5 mới 15 tuổi 3 tháng và Q 14 tuổi 10 tháng, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” nên Cơ quan điều tra xử lý hành chính với 02 đối tượng trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

    [6.4] Tại phiên tòa, người bảo vệ và đại diện hợp pháp của bị hại L3 yêu cầu hủy bản án sơ thẩm với lý do: Mặc dù bị hại có một phần lỗi nhưng các bị cáo bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” đã có hành vi đánh bị hại nên phải bị truy tố, xét xử về tội “Giết người”, từ đó cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã bỏ lọt người phạm tội là không có căn cứ, không phù hợp với chứng cứ và các tình tiết khách quan của vụ án.

  7. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  8. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ 348, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của bà Lê Thị Kim D1 và bà Nguyễn Thị Mỹ H2 yêu cầu xem xét lại hình phạt đối với các bị cáo: Nguyễn Văn G, Nguyễn Ngọc D, Trần Hải Đ, Phan Minh Đ1.
  2. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật đối với các bị cáo: Nguyễn Văn G, Nguyễn Ngọc D, Trần Hải Đ, Phan Minh Đ1.
  3. Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục giam bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Ngọc D, Trần Hải Đ, Phan Minh Đ1 để bảo đảm thi hành án.
  4. Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Kim D1 và bà Nguyễn Thị Mỹ H2 là đại diện hợp pháp của bị hại Vũ Ngọc L3 yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
  5. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 190/2023/HS-ST ngày 26 tháng 04 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
  6. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
    1. Xử phạt bị cáo Đoàn Vũ T9 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
    2. Xử phạt bị cáo Huỳnh Trần Thứ L 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
    3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2022.

      Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục giam bị cáo Nguyễn Văn H để bảo đảm thi hành án.

    4. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng T 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
    5. Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc P 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
  7. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    1. Xử phạt bị cáo Võ Văn T1 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
  8. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu: VP (3), Hồ sơ (2), (án BĐA).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Đức Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 573/2023/HS-PT ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (vụ án giết người, cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 573/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vụ án Giết người, Cố ý gây thương tích, Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger