|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 573/2024/HS- PT Ngày: 15-7-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Năng Thành
Các Thẩm phán: ông Hoàng Văn Thành, ông Hoàng Nhật Tân
- Thư ký phiên toà: ông Đỗ Duy Trung- Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Cẩm Thủy- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 324/2024/TLPT- HS ngày 01 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Huy Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS- ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.
* Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Huy Q; tên gọi khác: Nguyễn Quốc H; sinh năm 1986, tại Bắc Giang; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: tổ B, phường N, L, Hà Nội; nơi ở: P1120, tòa S, khu đô thị V, xã Đ, G, Hà Nội; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Huy Q1 và bà Nguyễn Thị S; gia đình có 04 chị em (bị cáo là con thứ hai); chưa có vợ, con; chưa có tiền án, tiền sự; không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; 0986 880 007; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo có ông Nguyễn Công G và ông Nguyễn Văn T; các luật sư của Công ty L1; đều có mặt.
* Người bị hại: anh Nguyễn Hoàng A; sinh năm 1992; địa chỉ: số B, ngõ G, tổ F, phường T, T, Hà Nội; không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 29/7/2019, Nguyễn Huy Q cùng anh Nguyễn Đức A1 (sinh năm 1988; HKTT: Quỳnh Hội, Q, Thái Bình), anh Phạm Văn N (sinh năm 1980; HKTT: Cầu X, Q, Q, Thái Bình), anh Phạm Văn T1 (sinh năm 1976; HKTT: Văn Quán, V, M, Hà Nội) và một người phụ nữ là bạn của A1, tên là M (không xác định rõ lai lịch) cùng ngồi ăn tối tại bãi gửi xe D (đối diện nhà số D đường Đ, phường T, T). Sau đó, anh T1 đi về trước, M vào trong phòng bảo vệ của bãi xe nằm nghỉ; Quyến, A1 và N vẫn ngồi uống rượu.
Khoảng 21 giờ cùng ngày (sau khi ăn xong), Q gọi điện thoại cho Nguyễn Hoàng A, hẹn gặp tại bãi gửi xe để trao đổi về việc Hoàng A trả nợ Quyến 16.000.000 đồng (tiền cờ bạc); Hoàng A điều khiển xe máy từ nhà đến bãi xe D, dựng xe gần cổng ra vào, tiến đến vị trí Q đang ngồi với anh N, anh A1 và ngồi cách Q khoảng 04m; Q hỏi Hoàng A “Bao giờ mày trả tiền tao? Mày có trả tiền tao không?”; Hoàng A trả lời “em sẽ trả nhưng hiện giờ em chưa có tiền”; Q cầm một thanh gỗ ở dưới gầm bàn uống nước, đứng dậy và định lao vào đánh Hoàng A thì anh N, anh A1 lao vào can ngăn, giật thanh gỗ từ tay Quyến ném đi. Hoàng A chạy ra ngoài bãi xe về phía ngõ A Â, vừa chạy, vừa gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thị Hồng N1 (sinh năm 1973; địa chỉ: số I P, phường H, H, Hà Nội) và nói “Cô ơi, đang có anh dọa đánh cháu”; chị N1 hỏi lại “Đang ở đâu?”; Hoàng A trả lời “Cháu đang ở gần ở nhà bác T2”.
Thấy Hoàng A chạy ra khỏi bãi xe và gọi điện thoại nên Q quay vào trong lán bảo vệ, tìm được một con dao quắm dài khoảng 60cm (phần chuôi bằng gỗ, phần lưỡi bằng kim loại đã cũ rỉ), cầm dao và đi theo Hoàng A với mục đích để xem Hoàng A gọi cho ai và để đòi nợ; anh A1 can ngăn Q nhưng không được nên anh A1 cũng chạy theo.
Cùng lúc này, anh Vì Quang V (sinh năm 1994; HKTT: Bản N, xã N, Sông M, Sơn La) điều khiển xe máy Honda SH màu trắng đến cổng bãi gửi xe D, hỏi xảy ra chuyện gì thì N trả lời là Q và Hoàng A đang cãi nhau về nợ nần nên anh V điều khiển xe máy về hướng ngõ A Â. Hoàng A chạy đến trước nhà số I, ngõ A Â thì quay lại phía sau, thấy Q đang cầm dao quắm đi bộ tiến đến; anh V và anh A1 và một số người từ trong quán café số H ngõ A Â đi ra để can ngăn. Quyến tiến đến gần Hoàng A, đứng đối diện (cách Hoàng A khoảng 1m đến 1,5m), cầm dao bằng tay phải, tay trái chỉ về phía Hoàng A và hỏi “Bây giờ mày gọi người nhà đến đây để làm gì? Số tiền mày nợ tao thì mày định như thế nào? Có trả hay không?”; Hoàng A trả lời chưa có tiền và sẽ trả từ từ. Lúc này, chị Nguyễn Thị Hồng N1 điều khiển xe máy đến, nói với Q “Cô là cô của Hoàng A, cháu có việc gì từ từ nói chuyện, nếu mà Hoàng A nợ tiền thì gia đình cô sẽ trả”. Quyến tiếp tục hỏi Hoàng A “Thế bây giờ tiền của tao như thế nào? Thế bao giờ mày trả tiền tao?”; Hoàng A trả lời “Bây giờ em chưa có việc, từ từ em sẽ trả, chứ không phải em không trả anh”; anh Vì Quang V tước con dao quắm từ tay Q và ném xuống đường; Quyến tiếp tục hỏi Hoàng A về số tiền nợ tại sao không trả tiền như đã hẹn. Do mọi người can ngăn nên Q và Hoàng A đi lên vỉa hè trước cửa nhà số 89 đứng; chị N1 nói chuyện và mời Q vào nhà để giải quyết sự việc. Quyến đi cùng anh V, chị N1 và Hoàng A vào nhà Hoàng A (số A, ngách A Á, phường T). Sau khi đã vào nhà, Q tiếp tục hỏi Hoàng A về số tiền Hoàng A đang nợ Q nhưng các bên không thống nhất được số tiền phải trả hàng tháng; Q nói “Nếu mày không có tiền, thì xin anh cho”; Hoàng A nói khó khăn và xin nên Q đồng ý, tuyên bố không đòi nợ nữa rồi cùng anh V đi về bãi gửi xe D.
Ngày 30/7/2019, anh Nguyễn Hoàng A đến Cơ quan Công an trình báo vụ việc. Cơ quan điều tra đã thu giữ của Phạm Văn N: 01 dao quắm dài khoảng 60cm, phần chuôi bằng gỗ, phần lưỡi bằng kim loại đã cũ rỉ; thu giữ của Nguyễn Huy Q: 01điện thoại OPPO F9 màu đỏ, đã qua sử dụng, số Imei 1: ..., số Imei 2: ...; 01điện thoại OPPO F7 màu đỏ, đã qua sử dụng, số Imei 1: ..., số Imei 2: ....
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Huy Q khai nhận nội dung vụ việc như đã nêu trên, khai nhận mục đích khi cầm thanh gỗ lên định lao vào đánh Hoàng A do Hoàng A là người đang nợ tiền Q; khi Q hỏi về việc trả tiền thì Hoàng A nói là chưa có tiền để trả, đồng thời còn trợn mắt và có thái độ thách thức nên Q bực tức và đã cầm thanh gỗ lên để lao vào định đánh Hoàng A; khi nhìn thấy Hoàng A vừa đi ra ngõ A Â, vừa gọi điện thoại nên Q nghĩ Hoàng A sẽ gọi người nhà đến; vì vậy, Q đã cầm dao quắm để tự vệ và để đòi tiền; tuy nhiên, Q không có ý định bắt buộc Hoàng A phải trả tiền ngay cho Q.
Nguyễn Hoàng A khai nhận có nợ Q 16.000.000 đồng, chưa trả nên Q gọi điện hẹn ra bãi xe Duy L để đòi nợ. Khi gặp nhau, Q chửi và yêu cầu trả nợ nhưng Hoàng A không có tiền để trả ngay; Quyến cầm 01 thanh gỗ lao vào định đánh Hoàng A thì được mọi người can ngăn. Thấy vậy, Hoàng A sợ hãi và bỏ chạy ra ngõ A Â, vừa chạy vừa gọi điện thoại cho người nhà; Q cầm theo 01 con dao chạy theo và tiếp tục đe dọa, yêu cầu Hoàng A phải trả nợ cho Q.
Những người làm chứng là Nguyễn Đức A1, Vì Quang V, Phạm Văn N đều khai nhận: tại bãi xe Duy L, Q yêu cầu Hoàng A trả nợ nhưng Hoàng A chưa có tiền trả ngay nên hai bên xảy ra to tiếng với nhau, Q cầm gậy gỗ giơ lên định đánh Hoàng A thì mọi người can ngăn; Hoàng A bỏ chạy về hướng ngõ A Â thì Q cầm 01 con dao chạy theo và yêu cầu phải trả nợ; mọi người can ngăn và đã lấy dao từ trong tay Q, ném xuống đường.
Đối với 01 điện thoại OPPO F9 thu giữ của Quyến: kết quả điều tra xác định tài sản này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và trao trả chiếc điện thoại trên cho Nguyễn Huy Q.
Người bị hại Nguyễn Hoàng A không yêu cầu gì về bồi thường dân sự và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Huy Q.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số số 19/2024/HS- ST ngày 30/01/2024, Toà án nhân dân quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 170, các điểm s và t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Huy Q 15 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/02/2024, bị cáo Nguyễn Huy Q có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phân tích về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo và sửa Bản án sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 170, các điểm s và t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Huy Q từ 10 tháng đến 12 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản; các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật nên không xem xét.
- Những người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huy Q phân tích về nội dung vụ án với lập luận: hành vi của bị cáo Q chưa đủ dấu hiệu phạm tội Cưỡng đoạt tài sản, bởi lẽ: bị cáo đã cho bị hại Nguyễn Hoàng A vay nợ 16.000.000 đồng và đã đòi nợ nhiều lần nhưng không trả; ngày 29/7/2019, bị cáo nói chuyện về khoản nợ thì bị hại tỏ thái độ thách thức rồi gọi điện cho người đến xử lý nên bị cáo đã cầm theo thanh gỗ và dao quắm để tự vệ mà không có mục đích đe dọa để đòi nợ. Trong trường hợp đủ căn cứ kết tội thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về việc bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với các cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, đầu thú, người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố của bị cáo có công với Cách M1, bị cáo có nhân thân tốt và không kêu oan để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo, được cải tạo ngoài xã hội và có điều kiện chăm sóc bố mẹ già yếu, có hoàn cảnh kinh tế và gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy Q phù hợp các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Huy Q tại phiên tòa phúc thẩm cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm, lời khai của người bị hại và những người làm chứng, phù hợp các vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án- Đủ cơ sở kết luận: do muốn đòi nợ tiền cờ bạc là 16.000.000 đồng đối với anh Nguyễn Hoàng A nên khoảng 21 giờ ngày 29/7/2019, Nguyễn Huy Q gọi điện yêu cầu Hoàng A đến bãi xe Duy V1 (đối diện nhà số D đường Đ, phường T, quận T, Thành Phố Hà Nội) để giải quyết việc nợ nần; khi Hoàng A đến, Q đòi nợ rồi cầm 01 đoạn gỗ dài khoảng 60cm, rộng khoảng 3cm và giơ lên (để đe dọa đánh Hoàng A) thì được mọi người can ngăn; Hoàng A bỏ chạy thì Q tiếp tục cầm theo 01 con dao quắm (dài khoảng 60cm, chuôi bằng gỗ, phần lưỡi bằng kim loại đã cũ rỉ) đi theo để phòng thân, đe dọa và đòi nợ đối với người bị hại Nguyễn Hoàng A. Với các hành vi do Nguyễn Huy Q đã thực hiện, Bản án sơ thẩm quy kết bị cáo Q về tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Q thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đúng như quy kết của Bản án sơ thẩm, ăn năn hối cải, đề nghị giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
[3] Bị cáo Nguyễn Huy Q phạm tội độc lập, không có đồng phạm và không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “tích cực hợp tác với các cơ quan chức năng trong quá trình giải quyết vụ án”, “đầu thú” và “người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo các điểm s và t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đã được Bản án sơ thẩm xem xét áp dụng cho bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử xem xét bổ sung về việc bố của bị cáo là “ông Nguyễn Huy Q1 đã tham gia quân đội bảo vệ Tổ Quốc” và “bị cáo có hoàn cảnh kinh tế và gia đình khó khăn”, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Q theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Bản án sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đúng về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, trị giá tài sản chiếm đoạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo để áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn không cho bị cáo hưởng án treo là có căn cứ, đúng pháp luật; vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội trình bày tại phiên tòa phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và quan điểm, lập luận của người bào chữa cho bị cáo về việc cho bị cáo hưởng án treo. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tại cấp phúc thẩm, bị cáo được áp dụng bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận một phần kháng cáo, sửa Bản án sơ thẩm và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Kháng cáo được chấp nhận một phần và cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo đã tự nguyện thi hành quyết định của Bản án sơ thẩm về án phí sơ thẩm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
[7] Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,
-
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024 /HS-ST ngày 30/01/2024 của Toà án nhân dân quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội đối với bị cáo Nguyễn Huy Q:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 170, các điểm s và t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy Q (tên gọi khác: Nguyễn Quốc H) 12 (mười hai) tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt hoặc tự nguyện thi hành án.
- Bị cáo Nguyễn Huy Q không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xác nhận: bị cáo Nguyễn Huy Q đã nộp 200.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội (theo biên lai số 0002561 ngày 23/5/2024) để chấp hành quyết định của Bản án sơ thẩm về án phí hình sự sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM NĂNG THÀNH |
Bản án số 573/2024/HS- PT ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (cưỡng đoạt tài sản) - phúc thẩm
- Số bản án: 573/2024/HS- PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cưỡng đoạt tài sản) - Phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Huy Q phạm tội Cưỡng đoạt tài sản
