Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 573/2024/HS-PT

Ngày 19 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương.
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thanh Duyên.
Ông Nguyễn Văn Tửu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 275/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo Lê Thị Hiền phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Do có kháng cáo của bị cáo Lê Thị Hiền đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2024/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 486/2024/QĐPT-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024.

Bị cáo có kháng cáo: Lê Thị Hiền (tên gọi khác: Út Hiền, Hiền Lucky), sinh năm 1986 tại tỉnh Cà Mau (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp Hòa Trung, xã Lương Thế Trân, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu Tung và bà Nguyễn Thị Đang; chồng: Huỳnh Trung Liệt và có 01 người con; tiền sự, tiền án: không.

Nhân thân: Bản án hình sự phúc thẩm số 207/2012/HS-PT ngày 21/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xử phạt Lê Thị Hiền 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong ngày 17/01/2014.

Bản án hình sự phúc thẩm số 254/2022/HS-PT ngày 27/4/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Lê Thị Hiền tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (đang chấp hành án tại Trại giam Cái Tàu-Bộ Công an).

1

Bị cáo không có kháng cáo:

  1. Phạm Ngô Ánh Tâm (tên gọi khác: Bé Tâm), sinh ngày 12/5/2000 tại tỉnh Bạc Liêu;
  2. Nơi cư trú: Ấp Phú Tòng, xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đăng Ngươn và bà Ngô Thị Tấm; chồng: Không; con: Phạm Ngô Ánh Băng, sinh 02/7/2019 và Phạm Lâm Khánh Băng sinh 20/4/2022; tiền sự, tiền án: Không.

    Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HS-ST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, xử phạt Phạm Ngô Ánh Tâm 16 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Phạm Ngô Ánh Tâm được tạm hoãn chấp hành án.

  3. Trương Kim Phượng (tên gọi khác: Hồng), sinh năm 1979 tại tỉnh Cà Mau;
  4. Nơi cư trú: Khóm 2, Phường 1, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Tâm và bà Trần Thị Liên; chồng: Lâm Thanh Tuấn; con có 02 người; tiền sự, tiền án: Không.

    Nhân thân: Bản án hình sự phúc thẩm số 242/2012/HS-PT ngày 21/11/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xử phạt Trương Kim Phượng 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong ngày 31/8/2015. Bị bắt tạm giữ từ ngày 08/5/2019 đến ngày 17/5/2019 chuyển tạm giam, sau đó chuyển sang chấp hành án đến ngày 15/02/2023 chuyển sang qua tạm giam cho đến nay.

Người tham gia tố tụng khác:

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Lê Thị Hiền: Luật sư Đoàn Trọng Nghĩa, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Trong vụ án, có một số bị cáo nhưng không có kháng cáo, cũng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 08/5/2019, tại phòng giao nhận hàng hóa của dịch vụ xe Tuấn Hưng, thuộc Khóm 4, Phường 6, thành phố Cà Mau, lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh Cà Mau, kết hợp với Công an Phường 6, bắt quả tang Trương Kim Phượng đang cầm trên tay một túi đồ. Kiểm tra bên trong túi đồ phát hiện có 08 bịch nylon, bên trong mỗi bịch nylon có chứa tinh thể màu trắng, dạng rắn được để lẫn trong các gói tã vải GOOD MAMA (tã trẻ em) nghi là ma túy. Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ, niêm phong theo quy định.

2

Kết luận giám định số 70-GĐH/PC09 ngày 11/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 08 (tám) bịch nylon, được niêm phong kín trong hộp hình chữ nhật, ký hiệu M.06/2019 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 394,46gam, loại Methamphetamine (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ).

Kết quả điều tra xác định: Vào khoảng năm 2015, Trương Kim Phượng quen biết với Lê Thị Hiền do ở chung phòng trong Trại giam Cái Tàu (Phượng chấp hành án phạt tù về tội “Cướp tài sản”, án phạt 09 năm, ngày 31/8/2015 Phượng được đặc xá, Hiền chấp hành án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”). Sau khi ra tù, Phượng gặp lại Hiền và làm giúp việc nhà cho Hiền được khoảng 02 tháng. Từ mối quan hệ này, Hiền nhờ Phượng (Hiền sử dụng điện thoại số 0904.389.xxx gọi vào số điện thoại 0915.661.xxx của Phượng) đi nhận ma túy do Phạm Ngô Ánh Tâm gửi từ Thành phố Hồ Chí Minh về đem giao cho người khác, mỗi lần giao ma tuý cho người khác, Phượng được nhận tiền công, cụ thể:

Lần thứ nhất: Không xác định được thời gian cụ thể, Hiền điện thoại kêu Phượng đến trạm xe Hảo ở xã Tắc Vân, thành phố Cà Mau nhận ma túy để giao cho người mua. Ma túy được Hiền nguỵ trang và ghi sẵn thông tin người gửi, người nhận rồi kêu Tâm đi gửi cho Phượng qua dịch vụ xe Hảo. Xe về tới Cà Mau, Phượng đến gặp nhân viên của trạm xe nhận gói đồ tên Thúy Vi có số điện thoại 0915.661.xxx. Nhận gói đồ (bên trong có ma túy), Phượng đem giao cho một người nam nhỏ tuổi (không quen biết) cách cầu Láng Trâm khoảng 100m thuộc địa phận thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu và nhận 1.000.000 đồng. Số tiền này Phượng trả tiền xe ôm 100.000 đồng, còn 900.000 đồng, Phượng sử dụng.

Lần thứ hai: Khoảng cuối tháng 4/2019, Hiền điện thoại kêu Phượng đến trạm xe Tuấn Hưng nhận ma túy để giao cho khách. Ma tuý được Hiền ngụy trang trong gói cà phê (ghi thông tin người gửi Ngọc Quyên, nhận Thúy Ái, số điện thoại 0915.661.xxx), rồi kêu Tâm gửi cho Phượng qua dịch vụ xe Tuấn Hưng. Nhận xong, Phượng đi đến khu vực cây xăng Tỉnh ủy (Phường 5, thành phố Cà Mau) giao cho người thanh niên và nhận tiền công 500.000 đồng.

Lần thứ ba: Tháng 5/2019, Hiền điện kêu Phượng đến trạm xe Tuấn Hưng nhận ma tuý giao cho khách. Ma tuý được Hiền nguy trang bằng bọc bánh (ghi thông người gửi Tú, người nhận Hồng, số điện thoại 0915.661.xxx) rồi kêu Tâm gửi cho Phượng qua dịch vụ xe Tuấn Hưng. Nhận xong, Phượng đi đến khu vực cây xăng Tỉnh ủy (Phường 5, thành phố Cà Mau) giao cho 02 người thanh niên và nhận tiền công 500.000 đồng.

Lần thứ tư: Vào ngày 07/5/2019, Hiền ngụy trang ma túy trong tã trẻ em, ghi thông tin người nhận rồi kêu Tâm đem đến dịch vụ xe Tuấn Hưng ở Thành phố Hồ Chí Minh gửi về cho Phượng. Khoảng 08 giờ 05 phút, ngày 08/5/2019, Hiền điện thoại kêu Phượng lên trạm xe Tuấn Hưng tại Cà Mau lấy gói quần áo bên trong có ma túy (ghi thông tin người gửi Ngọc Quyên, người nhận Thúy Ái, số điện thoại 0915.661.xxx) đem đến cây xăng Tỉnh ủy giao cho người em của

3

Hiền và nhận tiền công 500.000 đồng. Khi Phượng đến trạm xe Tuấn Hưng làm thủ tục nhận hàng xong chuẩn bị ra về thì bị bắt quả tang.

Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2019/HS-ST ngày 31/10/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau đã xét xử bị cáo Trương Kim Phượng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và xử phạt 18 năm tù. Đối với Lê Thị Hiền và các đối tượng nhận ma tuý của Trương Kim Phượng, do chưa xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ có căn cứ xử lý sau.

Ngày 31/10/2019, Cơ quan điều tra bắt được Lê Thị Hiền, kết quả điều tra có chứng cứ xác định hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Hiền có liên quan đến hành vi tàng trữ ma tuý trái phép của Trương Kim Phượng đã bị Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử vào ngày 31/10/2019.

Ngày 13/9/2022, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định tái thẩm số 41/2022/HS-TT huỷ toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 30/2019/HS – ST của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau; Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau để điều tra lại đối với bị cáo Trương Kim Phượng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2024/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, quyết định:

1. Trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lê Thị Hiền, Phạm Ngô Ánh Tâm, Trương Kim Phượng; điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tâm; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phượng;

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thị Hiền, Phạm Ngô Ánh Tâm, Trương Kim Phượng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tuyên phạt:

Bị cáo Lê Thị Hiền 20 (hai mươi) năm tù; tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự phúc thẩm số 254/2022/HS-PT ngày 27/4/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo Hiền tù chung thân. Hình phạt chung của 02 bản án bị cáo Lê Thị Hiền phải chấp hành là tù chung thân, thời hạn tù được tính kể từ ngày 04/10/2019.

Bị cáo Phạm Ngô Ánh Tâm 16 (mười sáu) năm tù; tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HS-ST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, xử phạt bị cáo Tâm 16 năm tù. Hình phạt chung của 02 bản án bị cáo Phạm Ngô Ánh Tâm phải chấp hành là 30 (ba mươi) năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/3/2020 đến ngày 26/3/2020 (Thời hạn tạm giữ của bản án số 11/2021/HS-ST).

Bị cáo Trương Kim Phượng 18 (mười tám) năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày 08/5/2019.

4

2. Trách nhiệm dân sự:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phượng, Tâm; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Hiền, Tâm, Phượng.

Buộc bị cáo Phạm Ngô Ánh Tâm phải nộp lại 2.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo Trương Kim Phượng phải nộp lại 2.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 15/3/2024, bị cáo Lê Thị Hiền kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Hiền giữ nguyên kháng cáo kêu oan và trình bày: Bị cáo xin giữ quyền im lặng không trả lời tất cả các câu hỏi tại phiên tòa, yêu cầu hoãn phiên tòa để triệu tập bị cáo Phượng đối chất.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét xử và bị cáo đã tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ.

Về nội dung: Đối với yêu cầu kháng cáo kêu oan của bị cáo Hiền, tại phiên tòa bị cáo không đồng ý trả lời câu hỏi, giữ quyền im lặng. Tuy nhiên, căn cứ vào biên bản lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ phù hợp với các chứng cứ và kết quả xác minh, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng pháp luật, không oan; hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hiền, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Thị Hiền trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo kháng cáo kêu oan cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi phạm tội, không kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, bị cáo không trả lời câu hỏi của Hội đồng xét xử và câu hỏi của Luật sư, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ lời khai của bị cáo và các bị cáo khác có trong hồ sơ để xem xét kháng cáo của bị cáo theo quy định pháp luật.

Bị cáo Lê Thị Hiền trình bày: Bị cáo không đồng ý nội dung bào chữa của Luật sư, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội.

5

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị cáo Lê Thị Hiền kháng cáo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự là đúng pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hiền không trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét xử và câu hỏi của người bào chữa cho bị cáo. Thấy rằng: Việc không trả lời các câu hỏi tại phiên tòa là quyền của bị cáo; đồng thời, quyền bào chữa của bị cáo đã được đảm bảo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 309 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục giải quyết vụ án cũng không ảnh hưởng đến quyền của bị cáo.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù bị cáo Hiền không thừa nhận hành vi phạm tội và tiếp tục kháng cáo kêu oan. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị cáo Hiền tại Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bạc Liêu về hành vi mua bán ma tuý của bị cáo thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 01/2019 đến cuối tháng 4/2019, thể hiện: Bị cáo nhiều lần bán ma tuý cho các đối tượng bằng cách chuyển ma túy từ Thành phố Hồ Chí Minh về Cà Mau cho bị cáo Phượng để bị cáo Phượng chuyển đến đối tượng mua; ma tuý được cất dấu trong các gói hàng hoá và được nguỵ trang bằng các hàng hoá tiêu dùng thông thường như: Quần áo, thức ăn,.... Khi nguy trang xong bị cáo Hiền kêu Tâm đem gói “đồ” đến Trạm dịch vụ xe Hảo, Tuấn Hưng để chuyển về Cà Mau, bị cáo điện thoại cho Phượng và nói rõ thông tin ghi trên gói “đồ” để Phượng đến nhận và chuyển đến địa chỉ theo sự chỉ đạo của bị cáo.

Lời khai của bị cáo Hiền phù hợp với lời khai của các bị cáo Phượng, Tâm, phù hợp với chứng cứ là gói “đồ” bị cáo Phượng nhận tại lúc bị bắt quả tang và kết quả xác minh, tra cứu về các cuộc điện thoại giữa bị cáo Hiền và bị cáo Phượng.

Do đó, có cơ sở xác định: Với sự giúp sức của Trương Kim Phượng, Ngô Phạm Ánh Tâm, Lê Thị Hiền đã 04 lần đưa ma tuý từ Thành phố Hồ Chí Minh về Cà Mau thông qua dịch vụ chuyển hàng hoá của xe khách để bán ma tuý cho người mua ở Cà Mau và Bạc Liêu, cụ thể:

Lần thứ nhất: Không xác định được thời gian cụ thể, Hiền chỉ đạo cho Tâm gửi ma tuý từ Thành phố Hồ Chí Minh thông qua dịch vụ vận chuyển xe Hảo. Ma túy được nguy trang bằng hình thức gói hàng hoá thông thường. Bị cáo Phượng đến trạm xe Hảo thuộc xã Tắc Vân, thành phố Cà Mau nhận, khi nhận bị cáo Phượng biết rõ bên trong gói hàng hoá là ma tuý và đem giao ma tuý cho

6

cho một người nhận (không quen biết) thuộc địa phận thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu để nhận 1.000.000 đồng.

Lần thứ hai và lần thứ ba: Vào khoảng cuối tháng 4/2019 và đầu tháng 5/2019, cũng như lần thứ nhất Hiền chỉ đạo cho Tâm gửi ma tuý từ Thành phố Hồ Chí Minh về thành phố Cà Mau thông qua dịch vụ vận chuyển xe Tuấn Hưng. Ma tuý được ngụy trang trong gói hàng hoá, Phượng biết rõ là gói ma tuý và đem giao cho người nhận (không rõ nhân thân) tại địa điểm khu vực cây xăng Tỉnh ủy (Phường 5, thành phố Cà Mau) và nhận tiền công mỗi lần 500.000 đồng.

Lần thứ tư: Vào ngày 07/5/2019, cũng như các lần trước Hiền chỉ đạo cho Tâm gửi ma tuý từ Thành phố Hồ Chí Minh thông qua dịch vụ vận chuyển xe Tuấn Hưng. Lúc 08 giờ 30 phút, ngày 08/5/2019, tại phòng giao nhận hàng hóa của dịch vụ xe Tuấn Hưng (Phường 6, thành phố Cà Mau), bị cáo Phượng vừa nhận xong gói hàng hoá thì bị lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh Cà Mau bắt giữ, tiến hành kiểm tra phát hiện bên trong gói hàng hoá có 08 bịch nylon nghi là ma tuý.

Kết luận giám định số 70-GĐH/PC09 ngày 11/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 08 (tám) bịch nylon, được niêm phong kín trong hộp hình chữ nhật, ký hiệu M.06/2019 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 394,46gam, loại Methamphetamine.

[5] Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Hiền về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

[6] Xét kháng cáo của bị cáo Lê Thị Hiền, thấy rằng: Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tiếp tục kháng cáo kêu oan và cũng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Vì vậy, hình phạt 20 năm tù đối với bị cáo về tội danh nêu trên là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

[7] Từ những nội dung nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Lê Thị Hiền, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị cáo Lê Thị Hiền phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[8] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 355, Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ

7

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Hiền.
  2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 14/2024/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
  3. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thị Hiền, Phạm Ngô Ánh Tâm, Trương Kim Phượng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  4. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
    1. Xử phạt Bị cáo Lê Thị Hiền 20 (hai mươi) năm tù.
    2. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt tù chung thân của Bản án hình sự phúc thẩm số 254/2022/HS-PT ngày 27/4/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, buộc bị cáo Lê Thị Hiền phải chấp hành hình phạt chung là tù chung thân, thời hạn tù được tính kể từ ngày 04/10/2019.
    3. Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Thị Hiền để bảo đảm thi hành án.
  5. Về án phí:
    1. Án phí sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị Hiền phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
    2. Án phí phúc thẩm: Bị cáo Lê Thị Hiền phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
  6. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Cà Mau (2 bản);
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - Cục THADS tỉnh Cà Mau;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau;
  • - Công an tỉnh Cà Mau;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu: VP (3), Hồ sơ (2), (LTTH).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Đức Phương

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 573/2024/HS-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội “mua bán trái phép chất ma túy”

  • Số bản án: 573/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger