TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 572/2023/DS-ST Ngày: 18 tháng 10 năm 2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Kim;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Quản
- Bà Nguyễn Thị Thuần;
- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Việt Anh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2023 tại Phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 225/2023/TLST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2023 về “V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 947/2023/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1078/2023/QĐST-DS ngày 22 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Tiên T, sinh năm 1989;
Địa chỉ: D Đường N, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Võ Văn M, sinh năm 1974, là người đại diện theo ủy quyền (theo Hợp đồng ủy quyền lập ngày 18/4/2023 tại Văn phòng C, địa chỉ: F 48 - D Đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh);
Địa chỉ: 1 Đường B, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Lê Thanh T1, sinh năm 1978;
Địa chỉ: D Tổ I, Khu phố H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
3. Người làm chứng: Ông Nguyễn Đình Thanh S, sinh năm 1994;
Địa chỉ: E Đường T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản khai, biên bản thì người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Võ Văn M trình bày:
Do là bạn bè với nhau, nên ông Lê Thanh T1 có hỏi vay tiền của ông Trần Tiên T, cam kết trả đúng hẹn. Chính vì thế, ngày 17/9/2022 hai bên lập Giấy mượn tiền. Theo nội dung Giấy mượn tiền này, thì ông T cho ông T1 vay 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng, ông T1 cam kết thời hạn 07 (bảy) tháng, kể từ ngày 17/9/2022 đến ngày 17/4/2023) trả lại số tiền này cho ông T, không có thỏa thuận tiền lãi gì cả. Việc vay tiền ông T1 không có thế chấp bất kỳ tài sản nào cho ông T. Từ khi đủ điều kiện đăng ký kết hôn cho đến trước ngày 21/3/2023 thì ông Trần Tiên T chưa đăng ký kết hôn với ai. Đến ngày 21/3/2023 thì ông T đăng ký kết hôn với bà Trần Thị Lữ V (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35/2023 ngày 21/3/2023 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh). Do đó, tại thời điểm ngày 17/9/2022 ông T cho ông T1 vay tiền là tài sản riêng của ông T, không liên quan đến vợ, con cũng như không liên quan đến bất kỳ người nào khác. Ông T cũng không biết ông Lê Thanh T1 có vợ hay chưa, nên không thể cung cấp cho Tòa án. Mặt khác, ông T chỉ yêu cầu ông T1 trả nợ. Tại Đơn khởi kiện, ông T có đề nghị đưa người làm chứng vào tham gia trong vụ án nêu trên là ông Nguyễn Đình Thanh S, ông Lê Quốc B. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng ông T xác định chỉ đưa người làm chứng là ông Nguyễn Đình Thanh S. Nay, đã quá thời hạn cam kết trả nợ và ông T cũng nhiều lần liên lạc với ông T1, nhưng không được. Buộc lòng ông Trần Tiên T khởi kiện ông Lê Thanh T1 tại Tòa án yêu cầu như sau: Ông Lê Thanh T1 có nghĩa vụ trả nợ cho ông Trần Tiên T số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng và trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ từ ngày 18/4/2023 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử, với lãi suất 9%/năm. Ngoài ra, không có ý kiến yêu cầu nào khác.
Trong biên bản lấy lời khai thì người làm chứng – ông Nguyễn Đình Thanh S trình bày:
Ông có chứng kiến việc ông Trần Tiên T cho ông Lê Thanh T1 mượn tiền. Khi ông ký vào Giấy mượn tiền ngày 17/9/2022 với tư cách là người làm chứng, thì ông biết ông T cho ông T1 vay 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng. Ông với ông T là bạn bè, còn ông T1 thì ông không biết. Ông không có hưởng lợi gì trong việc vay tiền giữa ông T – ông T1. Trong Giấy mượn tiền ngày 17/9/2022 thì có ông với ông Lê Quốc B là người làm chứng, nhưng ông không có mối quan hệ gì với ông B. Nay, đối với yêu cầu khởi kiện của ông T, thì ông không có ý kiến yêu cầu gì. Ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bị đơn vắng mặt và Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa ngày 22/9/2023 bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến, yêu cầu đã trình bày trong quá trình tố tụng.
Người làm chứng có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình tố tụng.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, từ bỏ quyền tranh tụng nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và người làm chứng chấp hành theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Mặc dù, các bên đương sự ghi là Giấy mượn tiền, nhưng thật chất là vay tiền. Bởi vì, đối tượng của Hợp đồng mượn tài sản là tất cả những tài sản không tiêu hao. Trong khi đó, các bên đương sự tranh chấp với nhau về việc trả lại số tiền được xác lập ngày 17/9/2022. Như vậy, đây là quan hệ pháp luật “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Khi các bên lập Giấy mượn tiền ngày 17/9/2022 thì bị đơn có cung cấp địa chỉ D Đường H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong Đơn khởi kiện nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn tại D Tổ I, Khu phố H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh được ghi trong Giấy mượn tiền bằng văn bản. Nguyên đơn không biết địa chỉ mới và không yêu cầu tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với bị đơn. Theo kết quả xác minh: “Ông Lê Thanh T1, sinh năm 1978 có nơi thường trú tại D Tổ I, Khu phố H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T1 bán nhà đi đâu không rõ”. Như vậy, bị đơn thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú, trốn tránh nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Do đó, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của đương sự; căn cứ vào giấy tờ, tài liệu do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:
Theo Giấy mượn tiền ngày 17/9/2022 thì bị đơn có vay của nguyên đơn 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng; thời hạn trả nợ là 07 (bảy) tháng, từ ngày 17/9/2022 đến ngày 17/4/2023; không thỏa thuận tiền lãi; bị đơn không có thế chấp bất kỳ tài sản nào cho nguyên đơn. Đã quá thời hạn trả nợ, nhưng bị đơn không trả nợ cho nguyên đơn. Nay, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng và tính lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ từ ngày 18/4/2023 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử với lãi suất 9%/năm. Số tiền nguyên đơn cho bị đơn vay là tài sản riêng của nguyên đơn, không phải là tài sản chung của vợ chồng nguyên đơn, cũng không liên quan đến bất kỳ người nào khác.
Theo quy định của pháp luật:
Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay tài sản giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận”.
Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Theo Giấy mượn tiền ngày 17/9/2022 bị đơn có vay của nguyên đơn 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng. Nay, đã quá thời hạn trả nợ, nhưng bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Do đó, nguyên đơn khởi kiện là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật. Các tình tiết, sự kiện do nguyên đơn đưa ra không bị bất kỳ đương sự nào phản đối, nên nguyên đơn không cần chứng minh gì thêm. Việc vay tiền giữa nguyên đơn – bị đơn không liên quan đến bất kỳ người nào khác, nên không cần thiết triệu tập thêm đương sự để tham gia tố tụng. Xét, yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở và căn cứ pháp lý, nên chấp nhận. Buộc bị đơn có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng. Và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ từ ngày 18/4/2023 đến ngày 18/10/2023 tương ứng 06 tháng, với lãi suất 9%/năm. Mức lãi suất này thấp hơn so với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận. Cụ thể: 200.000.000 đồng x 9%/năm x 06 tháng/12 tháng = 9.000.000 (chín triệu) đồng. Như vậy, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 200.000.000 đồng + 9.000.000 đồng = 209.000.000 (hai trăm lẻ chín triệu) đồng.
[3] Về án phí:
Theo Điều 47 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch 209.000.000 đồng x 5% = 10.450.000 (mười triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng.
Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí 5.262.500 (năm triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2022/0005864 ngày 04/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 96, 147, 227, 228, 233, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 357, 463, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9, 30 của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Lê Thanh T1 có nghĩa vụ trả nợ cho ông Trần Tiên T 209.000.000 (hai trăm lẻ chín triệu) đồng.
Việc thi hành án do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
Buộc ông Lê Thanh T1 phải chịu án phí sơ thẩm 10.450.000 (mười triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Hoàn trả lại cho ông Trần Tiên T số tiền tạm ứng án phí 5.262.500 (năm triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm) đồng tại C Thi hành án dân sự có thẩm quyền theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2022/0005864 ngày 04/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự; thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mỹ Kim |
Bản án số 572/2023/DS-ST ngày 18/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 572/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
