|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 572/2025/HS-PT
Ngày: 26/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thanh Nhã
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Văn Chương
Ông Trần Đức Hiếu
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 316/2025/TLPT-HS ngày 01/4/2025 đối với bị cáo Nguyễn Cung B do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HSST ngày 10/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo bị kháng cáo:
Nguyễn Cung B, sinh năm 1975; giới tính: nam; ĐKHKTT: tổ dân phố A, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Cung H và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người bào chữa: Luật sư Đào Hồng S thuộc Công ty L1; có mặt.
Bị hại có kháng cáo:
ông Nguyễn Cung L, sinh năm 1959; nơi cư trú: tổ dân phố A, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 07/02/2024, ông L đến gặp chị Nguyễn Thị B1 (vợ Nguyễn Cung B) ghi 07 điểm lô số 31 với số tiền 161.000 đồng. Hai bên chỉ trao đổi miệng, không có phiếu tích kê. Sau khi xem kết quả sổ số Miền Bắc tối ngày 07/02/2024, ông L thấy giải nhì về số 71031, là ông trúng số lô 31, được 01 “lần”. Khoảng 19 giờ 00 ngày 08/02/2024, ông L đến nhà chị B1 để lấy tiền trúng số lô. Lúc này, B đang ở phòng khách; anh Nguyễn Minh T (sinh năm 2002 - là con của chị B1, B) cùng chị B1 đang ở khu vực bếp. Ông L đi vào trong khu vực bếp, đứng đối diện chị B1 và bảo chị B1 trả ông tiền trúng số lô 31. Tuy nhiên, chị B1 nói: Ông đánh con lô 13, không phải 31. Hai bên tranh cãi, to tiếng với nhau. Ông L dùng hai tay đấm trúng khoảng 3 - 4 cái vào phần cổ và bả vai chị B1. Nguyễn Cung B chạy từ phòng khách vào khu vực bếp thì nhìn thấy ông L đánh chị B1, B đến sau lưng ông L, dùng tay phải nắm lấy cổ áo phía sau của ông L rồi kéo, giật ông L ngã về phía sau, đầu đập xuống nền nhà. Ông L nằm bất tỉnh trên nền nhà khoảng 15 phút thì tự ngồi dậy và ra phòng khách ngồi. Lúc này, anh Nguyễn Cung N (là em trai của B) đến nhà B chơi. Thấy ông L dáng vẻ mệt mỏi nên N hỏi chuyện. Nghe ông L nói sang lấy 560.000 đồng tiền trúng số lô mua của chị B1 nhưng chị B1 không trả, anh N đã đưa số tiền mặt 560.000 đồng cho ông L rồi dìu ông L về nhà. Khi về đến nhà, ông L được chị Nguyễn Thị C và anh Lê Khắc Ú đỡ, đưa ông L vào nhà.
Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, ông L kêu mệt mỏi, đau đầu thì chị C đến nhà Bắc báo tin và yêu cầu gia đình B phải có trách nhiệm. Con trai B là anh Nguyễn Minh T cùng anh Lê Khắc Ú đưa ông L đi cấp cứu tại Bệnh viện Q. Ông L được điều trị tại Bệnh viện Q từ ngày 08/02/2024 đến ngày 26/02/2024 thì ra viện với két quả xét nghiệm, cận lâm sàng có giá trị chẩn đoán: Hình ảnh dập não xung huyết trán phải, xuất huyết dưới nhện trán hai bên/vỡ xương đỉnh phải. Định lượng Ethanol (cồn) trong máu: dưới ngưỡng định lượng. Tình trạng khi ra viện: Đỡ.
Ngày 28/2/2024, ông Nguyễn Cung L đã đến Công an phường P, quận H, Hà Nội trình báo sự việc trên.
Hậu quả được xác định:
- Chị Nguyễn Thị B1 bị một vài vết đỏ da vùng bả vai (xem xét dấu vết cơ thể ngày 28/2/2024).
- Ông Nguyễn Cung L bị chấn thương sọ não, dập não, xuất huyết trán phải, xuất huyết dưới nhện vùng trán đỉnh hai bên, vỡ xương đỉnh phải.
Ngày 20/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y - Sở Y giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Cung L. Tại Bản kết luận giám định số 402/KLTTCT-TTPY ngày 02/4/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y, kết luận:
"1. Các kết quả chính:
1.1 Vỡ xương đỉnh phải;
1.2 Xuất huyết dưới nhện vùng trán đỉnh phải, hiện không còn hình ảnh tổn thương trên phim chụp cắt lớp vi tính;
1.3 Ô tụ máu nhỏ mu não vùng trán phải, hiện không còn hình ảnh tổn thương trên phim chụp cắt lớp vi tính;
1.4 Tụ máu ngoài màng cứng vùng trán đỉnh phải, còn hình ảnh trên phim chụp cắt lớp vi tính.
2. Kết luận:
2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Cung L tại thời điểm giảm định là 35% (ba mươi lăm phần trăm).
2.2. Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích của ông Nguyễn Cung L do vật tày gây ra".
Ngày 15/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H có công văn đề nghị Trung tâm pháp y - Sở Y giải thích rõ về Kết luận giám định số 402 ngày 02/4/2024: Thương tích của ông Nguyễn Cung L có thể do ngã đập đầu xuống nền nhà gây nên được không? Vật tày tiếp xúc đầu tiên với vị trí nào trên đầu của ông L gây ra thương tích trên?
Ngày 16/10/2024, Trung tâm pháp y - Sở Y có công văn số 720/CV-TTPY khẳng định: "...ông L có tổn thương sưng nề phần mềm vùng đỉnh đầu bên phải, tương ứng vị trí xương sọ và tổn thương nội sọ. Cơ chế hình thành thương tích của ông L có thể do vật tày va đập trực tiếp vào vùng đỉnh đầu bên phải hoặc do đập vùng đỉnh đầu bên phải vào mặt phẳng cứng. Theo công văn số 4503/CSĐT-ĐTTH, trong tình huống ông L ngã đập đầu vùng đỉnh phải xuống nền nhà có thể gây ra các tổn thương của ông L".
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị B1. Tuy nhiên, chị B1 đã có đơn xin từ chối giám định thương tích với lý do thương tích trên của chị B1 nhẹ, không đáng kể, nên không xác định được tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị B1.
Vì vậy, đối với hành vi của ông L dùng tay đấm vào vùng cổ, vai chị B1, ngày 17/10/2024, Công an quận H, Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Cung L về hành vi “Cố ý gây thương tích cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” theo quy định tại điểm a khoản 5 điều 7 Nghị định 144/2021/ND-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Đối với việc ông L mua của chị B1 số lô 31 với số tiền 161.000 đồng và trúng thưởng 560.000 đồng. Tổng số tiền mua lô, trúng thưởng là 721.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng), không thành cấu tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Ngày 17/10/2024, Công an quận H, Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông L và chị B1 về hành vi “Đánh bạc trái phép dưới hình thức mua các số lô, số đề” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.
Ông L, chị B1 không có ý kiến gì khác về các quyết định hành chính nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ông Nguyễn Cung L yêu cầu bị cáo Nguyễn Cung B bồi thường số tiền 353.900.000 đồng chi phí điều trị, tổn hại sức khỏe, tinh thần, tiền mất thu nhập. Anh Nguyễn Cung N không đề nghị ông L hoàn trả số tiền 560.000 đồng. Bị cáo trình bày, khi đưa ông L đi cấp cứu ngày 08/02/2024, con trai bị cáo (là anh T) đã tự nguyện nộp chi phí vào viện 3.000.000 đồng cho ông L, song bị cáo tự nguyện chi phí khoản tiền này và không yêu cầu xem xét.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HSST ngày 10/01/2025, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Cung B 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự; điều 48 Bộ luật Hình sự.
Buộc bị cáo bồi thường ông Nguyễn Cung L 100.482.000 đồng, được tính từ 30.000.000 đồng, còn phải bồi thường tiếp 70.482.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/01/2025, ông Nguyễn Cung L kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ông Nguyễn Cung L cho rằng chị Nguyễn Thị B1 là người gây ra thương tích cho ông. Tuy nhiên, ông L không đưa ra được chứng cứ chứng minh; ngoài ra, ông L cho rằng bị cáo sử dụng hung khí tấn công nên phải bị xét xử theo khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ông L giữ nguyên nội dung kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm, ông L đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo, không cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo chưa hối cải, sau khi xét xử sơ thẩm thường xuyên có hành vi khiêu khích, không tích cực bồi thường.
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm quy kết và xác nhận không kháng cáo đối với bản án sơ thẩm. Bị cáo khẳng định chị B1 không tham gia tấn công ông L.
- Chị Nguyễn Thị B1 xác nhận nội dung bản án sơ thẩm là đúng, đồng thời khẳng định bị cáo là người có hành vi gây thương tích cho ông L.
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:
Kháng cáo của bị hại trong hạn luật định nên được chấp nhận về hình thức.
Đủ căn cứ quy kết Nguyễn Cung B phạm tội “Cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là có căn cứ.
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm d khoản 2 Điều 357. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Cung B 24 tháng tù.
Cấp sơ thẩm xác định mức thiệt hại 133.975.000 đồng là có căn cứ. Tuy nhiên, thương tích của bị hại hoàn toàn do lỗi của bị cáo. Vì vậy, cấp sơ thẩm buộc bị hại phải tự chịu 25% thiệt hại của bản thân là không phù hợp. Cần buộc bị cáo bồi thường bị hại toàn bộ số tiền 133.975.000 đồng và được đối trừ số tiền 30.000.000 đồng đã nộp.
- Người bào chữa khẳng định cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Người bào chữa đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm vì bị hại có hành vi trái pháp luật nên bị cáo bị kích động về tinh thần, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, tích cực bồi thường nhưng không được bị hại tiếp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của bị hại trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị hại cho rằng chị Nguyễn Thị B1 là người gây thương tích và người gây thương tích sử dụng hung khí nhưng không đưa ra được chứng cứ. Bị cáo Nguyễn Cung B khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ được tóm tắt nêu trên, bị cáo thừa nhận bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt là đúng người, đúng tội, không oan. Chị Nguyễn Thị B1 khẳng định lời khai của bị cáo là đúng. Lời khai của bị cáo, chị Nguyễn Thị B1 tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Minh T về việc bị cáo có hành vi tóm cổ áo phía sau lưng bị hại rồi kéo, giật ông L về phía sau làm đầu ông L đập xuống nền nhà. Tại Công văn số 720/CV-TTPY ngày 16/10/2024, Trung tâm Pháp y – Sở Y khẳng định "...ông L có tổn thương sưng nề phần mềm vùng đỉnh đầu bên phải, tương ứng vị trí xương sọ và tổn thương nội sọ. Cơ chế hình thành thương tích của ông L có thể do vật tày va đập trực tiếp vào vùng đỉnh đầu bên phải hoặc do đập vùng đỉnh đầu bên phải vào mặt phẳng cứng. Theo công văn số 4503/CSĐT-ĐTTH, trong tình huống ông L ngã đập đầu vùng đỉnh phải xuống nền nhà có thể gây ra các tổn thương của ông L". Với hậu quả bị hại bị tổn hại 35% sức khỏe, Tòa án nhân dân quận Hà Đông xử phạt Nguyễn Cung B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
2.1. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, không có căn cứ hủy bản án sơ thẩm theo kháng cáo của bị hại.
2.2. Bị cáo có nhân thân tốt; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội; bị hại có hành vi tấn công vợ bị cáo trước và là một phần nguyên nhân dẫn đến vụ án nên cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, e khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Từ thời điểm phạm tội (ngày 08/02/2024) đến nay, bị cáo mới bồi thường bị hại số tiền 30.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị hại cũng có lỗi nên cấp sơ thẩm xử phạt 24 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, với hậu quả tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại là 35%, bị cáo chưa tích cực bồi thường và không thể hiện sự ăn năn, hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy việc cấp sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo là chưa đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa. Vì vậy, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và không cho bị cáo hưởng án treo.
2.3. Cấp sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường các khoản: Tiền thuốc, viện phí là 36.425.509 đồng; tiền xe đi lại 5.000.000 đồng; tiền người trông nom 19 ngày nằm viện 5.000.000 đồng; tiền bồi dưỡng sức khỏe sau khi ra viện 20.000.000 đồng; tiền bồi dưỡng 19 nằm viện 9.500.000 đồng; tiền bù đắp tổn thất tinh thần 15.000.000 đồng; tổn thất thu 43.050.000 đồng. Tổng các khoản bồi thường (đã làm tròn) 133.975.000 đồng là phù hợp. Tuy nhiên, thương tích của bị hại là do một mình bị cáo gây ra, bị hại có hành vi tấn công vợ bị cáo chỉ có lỗi trong nguyên nhân xảy ra vụ án, không có lỗi với thương tích của bản thân. Cấp sơ thẩm buộc bị hại phải tự chịu phần thiệt hại tương đương 25% tổng giá trị phải bồi thường là chưa phù hợp. Theo đó, cần buộc bị cáo bồi thường toàn bộ số tiền 133.975.000 đồng.
Do cấp phúc thẩm xác định lại khoản tiền bị cáo phải bồi thường nên cần sửa án phí dân sự sơ thẩm cho phù hợp.
[3] Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm d khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Cung B 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 590 Bộ luật Dân sự.
Buộc Nguyễn Cung B bồi thường ông Nguyễn Cung L số tiền 133.975.000 đồng, được đối trừ số tiền 30.000.000 đồng đã bồi thường. Bị cáo còn phải bồi thường 103.975.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
-
Căn cứ Điều 136, Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo nộp 5.198.750 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Nhã |
Bản án số 572/2025/HS-PT ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 572/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Cung B - Cố ý gây thương tích
