Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - HÀ NỘI


Bản án số: 572/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11/11/2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang - Thẩm phán.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vĩ
  2. Bà Nguyễn Thị Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 313/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Hồng L, sinh năm 1997; (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã S, thành phố Hà Nội;
Bị đơn: Anh Lương Văn H, sinh năm 1994; (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã S, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 10/9/2025 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn là chị Phạm Thị Hồng L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lương Văn H được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, đã tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 29/12/2015 tại trụ sở UBND xã T, huyện S nay là xã S, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn chị về sống cùng gia đình anh H tại thôn Đ, xã S, thành phố Hà Nội. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H không tu chí làm ăn mà thường xuyên chơi bời, rượu chè, nợ nần không quan tâm chăm sóc gia đình nên chị đã 02 lần ôm con về nhà bố mẹ đẻ, nhưng sau khi được bố mẹ hòa giải chị đã về đoàn tụ với anh H. Tuy nhiên anh H không thay đổi nên vợ chồng chỉ chung sống thời gian ngắn lại phát sinh mâu thuẫn. Lần cuối anh chị ly thân là từ ngày 06/9/2025 đến nay. Trong thời gian anh chị ly thân, anh H và gia đình đã đến nói chuyện nhưng chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không thể hàn gắn đoàn tụ được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

- Về con chung: Chị và anh H có 01 con chung là Lương Nhật D, sinh ngày 29/7/2016. Do khi ly thân anh H và gia đình ngăn cản không cho chị đưa con đi cùng nên hiện con chung đang sống cùng anh H. Chị đã nhiều lần quay lại đón con nhưng anh H không cho và uy hiếp, chửi bới, dọa nạt chị. Nay chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị đang làm nhân viên của Công ty TNHH F, ngoài ra chị còn bán hàng thêm, tổng thu nhập bình quân hàng tháng của chị là từ 12 đến 15 triệu đồng. Nếu Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, bố mẹ chị cam đoan tạo điều kiện về chỗ ở và phụ giúp chị chăm sóc con nhỏ.

- Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp công sức đóng góp, nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 23/10/2025, bị đơn là anh Lương Văn H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh xác định thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn và nơi chung sống của vợ chồng như chị L trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh và chị L chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do thời gian đó anh mải chơi, rượu chè nên thiếu quan tâm chăm sóc gia đình nên chị L đã về nhà bố mẹ đẻ sống từ tháng 9/2025, anh chị sống ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân anh và gia đình đã đến gặp và xin lỗi nhưng chị L không về đoàn tụ, anh vẫn đang cố gắng khắc phục thay đổi bản thân nên anh không đồng ý ly hôn. Anh đề nghị Tòa án hòa giải cho anh chị đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con.

- Về con chung: Anh và chị L có 01 con chung nhưng chị L trình bày. Con chung đang sống cùng anh nên nếu ly hôn anh đề nghị Tòa án tiếp tục giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Anh xác định anh đủ điều kiện trực tiếp nuôi con nên không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Hiện anh đang là nhân viên giao hàng của công ty S nhưng không có hợp đồng lao động, thu nhập bình quân của anh là 15.000.000 đồng/tháng, về chỗ ở: anh và con chung đang sống cùng bà nội và bố mẹ đẻ của anh trong ngôi nhà cấp IV, diện tích xây dựng là 90m2, nếu Tòa án giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng bố mẹ đẻ anh sẽ phụ giúp anh chăm sóc con nhỏ.

- Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp công sức đóng góp, nợ chung: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Chị L giữ nguyên ý kiến như đã trình bày là đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H và giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức, vay nợ: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết; xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, thụ lý vụ án, giao thông báo thụ lý vụ án, mở phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định; Việc thu thập tài liệu chứng cứ đầy đủ và đúng quy định pháp luật; Vụ án được giải quyết đúng thời hạn; Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án, phiên tòa diễn ra đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, 55, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 28, 35, 39 và khoản 4 Điều 147 của BLTTDS năm 2015, nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án đề nghị HĐXX quyết định:

  1. Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Hồng L, cho chị Phạm Thị Hồng L được ly hôn anh Lương Văn H.
  2. Về con: Giao con chung là Lương Nhật D, sinh ngày 29/7/2016 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị L, anh H không đề nghị Tòa án giải quyết. Anh Lương Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nhà đất, công sức đóng góp, nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị L, anh H không đề nghị Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị L chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về việc ly hôn và nuôi con. Bị đơn trong vụ án là anh Lương Văn H, cư trú tại thôn Đ, xã S, thành phố Hà Nội. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh Lương Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt anh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Hồng L và anh Lương Văn H được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 29/12/2015 tại trụ sở UBND xã T, huyện S nay là xã S, thành phố Hà Nội (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 138 ngày 29/12/2015 của UBND xã T) nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H. Anh H không đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án hòa giải cho anh chị đoàn tụ. Xét yêu cầu ly hôn của chị L Hội đồng xét xử nhận thấy: Quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, có sự quan tâm, vun đắp hạnh phúc, làm tròn nghĩa vụ của vợ chồng. Qua xác minh tại chính quyền cũng như trình bày của đương sự được biết: Vợ chồng anh chị đã không còn tin tưởng, gần gũi, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mặc dù anh chị đã tự hòa giải và được gia đình hai bên động viên hòa giải nhưng quan hệ vợ chồng không được cải thiện nên chị L đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh H. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án và gia đình đã tổ chức hòa giải cho anh chị nhưng đều không thành. Bản thân anh H không thực sự chủ động, tích cực bảo vệ cuộc hôn nhân của mình, không chấp hành Giấy triệu tập, không tham gia hòa giải tại Tòa án. Đến nay anh chị vẫn sống mỗi người một nơi. Như vậy có thể thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận đơn khởi kiện của chị L, cho chị L được ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Chị L và anh H có 01 con chung là Lương Nhật D, sinh ngày 29/7/2016. Sau khi ly hôn, anh chị đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D. Xét nguyện vọng nuôi con của anh chị Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của người làm cha, làm mẹ nên nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của anh chị là hoàn toàn chính đáng. Xét điều kiện nuôi con của anh chị HĐXX nhận thấy: Anh chị đều đang sống cùng bố mẹ, cùng được bố mẹ hỗ trợ về chỗ ở và phụ giúp việc chăm sóc con, tuy nhiên chị L giao nộp được hợp đồng lao động chứng minh thu nhập còn anh H chỉ có lời khai hiện đang làm nhân viên giao hàng mà không giao nộp được tài liệu gì, đồng thời cháu D còn nhỏ, lại có nguyện vọng được sống cùng mẹ nên cần giao cháu D cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L, anh H không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp công sức đóng góp, nợ chung chị L, anh H không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn là chị Phạm Thị Hồng L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 3, 8, 9, 51, 55, 58, 71, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Hồng L, cho chị Phạm Thị Hồng L được ly hôn anh Lương Văn H.

2. Về con chung: Xác định chị Phạm Thị Hồng L và anh Lương Văn H có 01 con chung là Lương Nhật D, sinh ngày 29/7/2016.

Giao con chung cho chị Phạm Thị Hồng L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án thay thế.

Anh Lương Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Phạm Thị Hồng L và anh Lương Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Phạm Thị Hồng L và anh Lương Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai ký hiệu: BLTU/25E số 0010270 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, chị Phạm Thị Hồng L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Anh Lương Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

- Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND Khu vực 7- Hà Nội;

- Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội;

- UBND xã Sóc Sơn, thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận kết hôn số 138 ngày 29/12/2015 của UBND xã Tiên Dược, huyện Sóc Sơn cũ);

- Lưu: Văn phòng, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN _ CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Vũ Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 572/2025/HNGĐ-ST ngày 11/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 572/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger