Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 572/2025/DSPT

Ngày: 26-5-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Kim Anh

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thoa

Ông Phan Nguyên Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thành Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Hòa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 4 và ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 60/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 02 năm 2025, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 409/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1719/2025/QĐ-PT ngày 01 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5546/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 4 năm 2025 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần P (OCB)

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: ông Trịnh Văn T; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Thiệu Ánh D; chức vụ: Trưởng phòng Xử lý nợ; theo Giấy ủy quyền số 15/2024/UQ-CT.HĐQT ngày 06/5/2024, lập bởi Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần P (01).

Địa chỉ trụ sở: tòa nhà T, Số A, đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và ông Thiệu Ánh D: theo Giấy ủy quyền số 571.01/2024/UQ-OCB ngày 19/7/2024, lập bởi Ngân hàng Thương mại cổ phần P (01).

  1. Ông Lâm Văn N;
  2. Bà Nguyễn Hoàng Hương G;

Cùng địa chỉ: Lầu B, Số A, đường T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: ông Nguyễn Quốc N1, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Số C, đường C, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1992;
  2. Bà Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 2000;
  3. Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 2004;

Cùng địa chỉ: Số C, đường C, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Ông Nguyễn Văn C; không rõ năm sinh và địa chỉ.
  2. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1948; không rõ địa chỉ.

*Do có kháng cáo của: nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại cổ phần P (01)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo Đơn khởi kiện đề ngày 01/12/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có người đại diện theo uỷ quyền trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần P (sau đây gọi tắt là “Ngân hàng”) với bà Nguyễn Thị Thu V và bị đơn đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ để vay vốn tại Ngân hàng chi tiết như sau:

- Hợp đồng tín dụng số 0255/2017/HĐTD-CN ngày 28/9/2017 (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng tín dụng Số 0255 ngày 28/9/2017”) và Khế ước nhận nợ số 0255/2017-OCB/KUNN-CN ngày 29/9/2017 (sau đây gọi tắt là “Khế ước nhận nợ Số 0255 ngày 29/9/2017”);

+ Số tiền vay: 3.300.000.000đồng;

+ Mục đích vay: mua bất động sản;

+ Thời hạn vay: 240 tháng;

+ Lãi suất vay: 10%/ năm, có điều chỉnh lãi suất theo quy định của Ngân hàng;

+ Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất vay trong hạn.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 411, tờ bản đồ số 10, tại Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CH 716155, số vào sổ cấp GCN: CS29211 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 28/3/2017 (sau đây gọi tắt là “Thửa đất Số 411").

Tài sản bảo đảm đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0255/2017/BĐ ngày 28/9/2017 tại Văn phòng C1, số công chứng 021422 (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng thế chấp Số 0255 ngày 28/9/2017”), đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà Nguyễn Thị Thu V và bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong Hợp đồng tín dụng Số 0255 ngày 28/9/2017 và Khế ước nhận nợ Số 0255 ngày 29/9/2017 được ký kết giữa Ngân hàng với bà Nguyễn Thị Thu V và bị đơn.

Dư nợ của Hợp đồng tín dụng Số 0255 ngày 28/9/2017 tạm tính đến ngày 25/9/2024 là 6.887.110.823đồng, trong đó:

  • + Nợ gốc: 3.290.000.000đồng;
  • + Nợ lãi trong hạn: 836.000đồng;
  • + Nợ lãi quá hạn: 2.462.621.366đồng;
  • + Lãi phạt: 1.133.653.457đồng;

Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ đến hạn thanh toán nhưng đến nay bà Nguyễn Thị Thu V và bị đơn vẫn không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng. Vì vậy, bà Nguyễn Thị Thu V và bị đơn đã vi phạm cam kết, nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các cam kết đã ký kết với Ngân hàng.

Ngân hàng yêu cầu khởi kiện như sau:

+ Buộc bà Nguyễn Thị Thu V và bị đơn trả cho Ngân hàng tổng số nợ của Hợp đồng tín dụng Số 0255 ngày 28/9/2017 tạm tính đến ngày 25/9/2024 là 6.887.110.823đồng, trong đó bao gồm: Nợ gốc là 3.290.000.000đồng; Nợ lãi trong hạn là 836.000đồng; Nợ lãi quá hạn là 2.462.621.366đồng; Lãi phạt là 1.133.653.457đồng, phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 19/3/2022 cho đến khi bà Nguyễn Thị Thu V và bị đơn hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng. Trả một lần toàn bộ số tiền nợ ngay sau khi quyết định/ bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

+ Nếu bà Nguyễn Thị Thu V và bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế kể cả việc kê biên, phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Số 0255 ngày 28/9/2017 để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật. Chi tiết tài sản bảo đảm như sau: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc Thửa đất Số 411.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có Đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện đề ngày 26/07/2024 xác định lại người bị kiện là ông Nguyễn Quốc N1, sinh năm 1970, địa chỉ: Số nhà C, đường C, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm : bà Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1992; bà Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 2000; ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 2004; cùng địa chỉ: Số C, đường C, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

*Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị Thu L, bà Nguyễn Thị Kiều O, ông Nguyễn Quốc H, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị M:

đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án không thu thập được lời khai và không tiến hành hòa giải được.

*Tại phiên tòa sơ thẩm:

nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do.

*Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 409/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 288; Điều 401, 463, 466 và 615 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 và 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 207; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 9 và khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ là 6.887.110.823đồng phát sinh từ Hợp đồng tín dụng Số 0255 ngày 28/9/2017 và Khế ước nhận nợ Số 0255 ngày 29/9/2017. Trong đó bao gồm: Nợ gốc là 3.290.000.000đồng; Nợ lãi trong hạn là 836.000đồng; Nợ lãi quá hạn là 2.462.621.366đồng; Lãi phạt là 1.133.653.457đồng. Thanh toán làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.

2/ Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền cho phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Số 0255 ngày 28/9/2017 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

3/ Bị đơn được quyền khởi kiện bằng một vụ án độc lập để yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác là người thừa kế di sản của bà Nguyễn Thị Thu V phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với bị đơn.

4/ Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: bị đơn phải chịu và phải hoàn trả cho Ngân hàng chi phí thông báo là 1.893.682đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

*Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do.

Nguyên đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu xem xét trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền cho phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp

Số 0255 ngày 28/9/2017 để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Đồng thời, không cung cấp bản án, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm là thay đổi Bản án dân sự phúc thẩm số 344/2021/DS-PT ngày 09/11/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:

Về tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ theo quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.

Về nội dung:

đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về hình thức: đơn kháng cáo của nguyên đơn được làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và đã đóng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Cần được chấp nhận về hình thức.

[2] Về xét xử vắng mặt các đương sự: bị đơn - ông Nguyễn Quốc N1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị Thu L, bà Nguyễn Thị Kiều O, ông Nguyễn Quốc H, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị M vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại đoạn 4 khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung: xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn được phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Số 0255 ngày 28/9/2017 để thu hồi nợ trong trường hợp bị đơn không thực hiện việc trả nợ, hoặc trả không đủ. Căn cứ Bản án dân sự phúc thẩm số 344/2021/DS-PT ngày 09/11/2021 V/v “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định: “1.4 Tuyên vô hiệu Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0255/2017/BĐ, số công chứng 021422 ngày 28/9/2017, lập tại Văn phòng C1, giữa bà Nguyễn Thị Thu V, ông Nguyễn Quốc N1 với Ngân hàng TMCP P - Chi nhánh Q1, Thành phố Hồ Chí Minh; 1.5 Buộc Ngân hàng Thương mại cổ phần P (01) – Chi nhánh Q1 trả lại cho ông Nguyễn Văn N2, bà Nguyễn Thị Q bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số CH 716155, số vào sổ cấp CS29211 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho ông Đỗ Huy T1 ngày 28/03/2017, cập nhật sang tên ông Nguyễn Văn N2, bà Nguyễn Thị Q ngày 27/4/2017.”. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo đã phát sinh hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

[5] Án phí dân sự phúc thẩm, nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng Thương mại cổ phần P (01). Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 409/2024/DSST ngày 25 tháng 9 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần P (01).

Buộc ông Nguyễn Quốc N1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P (O1) số tiền nợ là 6.887.110.823 (sáu tỷ, tám trăm tám mươi bảy triệu, một trăm mười ngàn, tám trăm hai mươi ba) đồng phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 0255/2017/HĐTD-CN ngày 28/09/2017 và Khế ước nhận nợ số 0255/2017-OCB/KUNN-CN ngày 29/09/2017. Trong đó bao gồm: Nợ gốc là 3.290.000.000 (ba tỷ, hai trăm chín mươi triệu) đồng; Nợ lãi trong hạn là 836.000 (tám trăm ba mươi sáu ngàn) đồng; Nợ lãi quá hạn là 2.462.621.366 (hai tỷ, bốn trăm sáu mươi hai triệu, sáu trăm hai mươi mốt ngàn, ba trăm sáu mươi sáu) đồng; Lãi phạt là 1.133.653.457 (một tỷ, một trăm ba mươi ba triệu, sáu trăm năm mươi ba ngàn, bốn trăm năm mươi bảy) đồng. Thanh toán làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.

2. Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần P (O1) trong trường hợp ông Nguyễn Quốc N1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần P (O1) được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền cho phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0255/2017/BĐ ngày 28/9/2017 tại Văn phòng C1, số C, để thu hồi nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P (OCB).

3. Ông Nguyễn Quốc N1 được quyền khởi kiện bằng một vụ án độc lập để yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác là người thừa kế di sản của bà Nguyễn Thị Thu V phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với ông Nguyễn Quốc N1.

4. Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: ông Nguyễn Quốc N1 phải chịu và phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P (O1) chi phí thông báo là 1.893.682 (một triệu, tám trăm chín mươi ba ngàn, sáu trăm tám mươi hai) đồng.

5. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Quốc N1 phải chịu là 114.887.111 (một trăm mười bốn triệu, tám trăm tám mươi bảy ngàn, một trăm mười một) đồng.

Ngân hàng Thương mại cổ phần P (O1) không phải chịu án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.617.730 (năm mươi sáu triệu, sáu trăm mười bảy ngàn, bảy trăm ba mươi) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0017842 ngày 15/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Án phí dân sự phúc thẩm:

Ngân hàng Thương mại cổ phần P (O1) phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0030676 ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND Quận 8;
  • - Chi cục THADS Quận 8;
  • - Đương sự (để thi hành).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Kim Anh

THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 572/2025/DSPT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 572/2025/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger