|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 571/2024/HS-ST Ngày: 14/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Phan Thị Mai Hương
- Ông Phạm Bá Chương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 526/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 611/2024/QĐXXST–HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Phan Ngọc Q, sinh năm: 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 205/9 Khu A, ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Ngọc C và bà Lý Kim M; có vợ là Nguyên Thùy D đã ly hôn và 01 con sinh năm 2013; tiền án: không có; tiền sự: - Ngày 07/3/2024, Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố T, tỉnh Long An ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; bị bắt, tạm giam ngày: 19/4/2024 (có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần).
- Bị hại:
- Bà Ngô Thị L, sinh năm: 1986.
Địa chỉ: B đường số D, khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Bà Trịnh Thị H, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: A Lô A - Chung cư T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Đăng K, sinh năm: 2004.
Địa chỉ: A Lô C - Chung cư T, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Triệu Thị Huỳnh A, sinh năm: 1955.
Địa chỉ: A Lô C - Chung cư T, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Ông Võ Ngọc T, sinh năm: 2004.
Địa chỉ: Khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An. (vắng mặt)
- Ông Mai Văn Đ, sinh năm: 2004.
Địa chỉ: Khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Do không có tiền tiêu xài nên Phan Ngọc Q nảy sinh ý định tìm tài sản có sơ hở để chiếm đoạt tại địa bàn thành phố T. Qua điều tra, xác định Q đã thực hiện 03 vụ trộm cắp như sau:
* Vụ thứ nhất: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 07/11/2023, Phan Ngọc Q đi bộ đến trước nhà số B đường số D, Khu phổ F, phường T, thành phố T do bà Ngô Thị L làm chủ và nhìn thấy cửa, cổng nhà không khóa và chỉ gài then chốt, Quốc nhìn vào bên trong thì thấy cửa chính mở, đèn sáng, nhà không có người. Q đứng trước nhà quan sát xung quanh khoảng 30 phút, rồi tiến đến mở then chốt cổng và vào nhà. Sau khi tìm kiếm phòng khách nhưng không có tài sản có giá trị để chiếm đoạt, Q tiếp tục đi vào phòng ngủ ở cuối hành lang, lấy 01 chùm chìa khóa để trên bàn, rồi đem ra phòng khách, cắm vào xe mô tô hiệu Piaggo, loại Vespa Primavera màu đỏ, biển số 37N1-331.19 của bà L. Sau khi mở được xe, Quốc dắt xe từ phòng khách ra ngoài đường số 4, sau đó điều khiển xe tẩu thoát. Sáng ngày 08/11/2023, bà L dậy, lấy xe đi làm thì phát hiện xe mô tô trên bị mất. Sau khi chiếm đoạt được xe Q sử dụng làm phương tiện di chuyển hằng ngày. Đến ngày 18/01/2024, Q điều khiển xe đi tỉnh Vĩnh Long chơi, khi di chuyển ngang địa phận tỉnh Tiền Giang thì bị Công an giao thông kiểm tra, lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm.
* Vụ thứ hai: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 19/01/2024, Phan Ngọc Q đi bộ đến trước nhà số A Lô A, Chung cư T, phường T, thành phố T. Q thấy trước nhà có dựng 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Jupiter màu xanh, biển số 59B1-245.18 của bà Trịnh Thị H, ổ khóa kim loại của căn nhà có gắn sẵn 01 chùm chìa khóa. Quốc tiến đến hàng rào, treo 01 nón bảo hiểm lên hàng rào, dùng chùm chìa khóa trên cổng để mở khóa xe mô tô trên. Thấy mở được xe, Quốc dắt xe ra ngoài đường, rồi quay lại lấy mũ bảo hiểm treo trên hàng rào và lên xe tẩu thoát. Sáng ngày 19/01/2024, bà H ngủ dậy lấy xe đi làm thì phát hiện xe mô tô trên đã bị mất. Sau khi chiếm đoạt được xe mô tô trên, Q sử dụng làm phương tiện di chuyển hàng ngày. Khoảng cuối tháng 01/2024, Q điều khiển xe đến tiệm cầm đồ Phương Nam 9 tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An, gặp ông Võ Ngọc T cầm cà vẹt xe với giá 1.000.000 đồng, rồi tiếp tục điều khiển xe đi Tiền Giang chơi. Đến ngày 07/02/2024, Q quay lại T1 cầm đồ Phương Nam 9 gặp ông T và làm giấy tay bán xe mô tô biển số 59B1-245.18 cho T1 cầm đồ Phương Nam 9 với giá 3.500.000 đồng. Ông T trừ đi 1.000.000 đồng tiền cầm cà vẹt xe và 160.000 đồng phí cầm đồ, còn lại đưa cho Q 2.340.000 đồng. Ông T bán xe lại cho nhân viên là ông Mai Văn Đ với giá 4.000.000 đồng.
* Vụ thứ ba: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 20/3/2024, Phan Ngọc Q đi bộ đến trước tòa nhà L Chung cư T, Khu phố B, phường T, thành phố T thì nhìn thấy 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Click màu đen, biển số 59B1-050.85 của ông Nguyễn Đăng K để ở khu vực trước cầu T chung cư T, không có người trông coi. Q sử dụng chìa khóa nhặt được từ trước, cắm vào và mở khóa xe, thấy xe mô tô khởi động được nên Q đã dắt xe rời khỏi vị trí đường nội bộ chung cư, nổ máy xe và tẩu thoát. Sau khi chiếm được xe mô tô, Q sử dụng làm phương tiện di chuyển hằng ngày. Đến ngày 17/4/2024, khi đang lưu thông trên đường H, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an kiểm tra và mời về trụ sở làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Phan Ngọc Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, Q còn khai nhận hành vi lạm dụng chiếm đoạt tài sản tại ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Ngày 15/8/2024, Công an huyện N đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
Kết luận định giá tài sản số 46-KV1/KLÐG-HĐĐGTS ngày 19/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận:
- 01 xe mô tô hiệu Piaggo, loại Vespa Primavera màu đỏ, biển số 37N1-331.19, có giá trị 40.167.000 đồng.
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Jupiter màu xanh, biển số 59B1-245.18, có giá trị 5.000.000 đồng.
- 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Click màu đen, biển số 59B1-050.85, có giá trị 8.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 53.167.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Piaggo, loại Vespa Primavera màu đỏ, biển số 37N1-331.19. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Ngô Thị L.
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Jupiter màu xanh, biển số 59B1-245.18. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Trịnh Thị H.
- 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Click màu đen, biển số 59B1-050.85. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Đăng K.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bà Ngô Thị L, bà Trịnh Thị H, ông Nguyễn Đăng K đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Ông Võ Ngọc T không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 3.500.000 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 479/CT-VKSTPTĐ ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Phan Ngọc Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Phan Ngọc Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phan Ngọc Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Phan Ngọc Q phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ xác định bị cáo Phan Ngọc Q đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản như sau:
- Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 07/11/2023, tại số B đường số D, khu phố F, phường T, thành phố T, bị cáo lấy xe mô tô hiệu Piaggo, loại Vespa Primavera màu đỏ, biển số 37N1-331.19 của bà Ngô Thị L. Sau khi lấy được xe, bị cáo sử dụng xe đi trên đường thì bị Công an giao thông tạm giữ do vi phạm hành chính.
- Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 19/01/2024, tại trước nhà số A Lô A, Chung cư T, phường T, thành phố T, bị cáo lấy xe mô tô hiệu Yamaha, loại Jupiter màu đỏ, biển số 59B1-245.18 của bà Trịnh Thị H. Sau khi lấy xe, bị cáo mang bán cho ông Võ Ngọc T, là chủ tiệm cầm đồ Phương Nam 9 được 3.500.000 đồng và tiêu xài hết số tiền.
- Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 20/3/2024, tại trước Lô C, Chung cư T, Khu phố B, phường T, thành phố T, bị cáo lấy xe mô tô hiệu Honda, loại Click màu đen, biển số 59B1-050.85 của ông Nguyễn Đăng K. Ngày 17/4/2024, bị cáo sử dụng xe lưu thông trên đường thì bị Công an kiểm tra và phát hiện sự việc.
Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Ngọc Q phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Theo kết quả định giá thì xe mô tô hiệu Piaggo, loại Vespa Primavera màu đỏ, biển số 37N1-331.19 trị giá 40.167.000 đồng; xe mô tô hiệu Yamaha, loại Jupiter màu xanh, biển số 59B1-245.18 trị giá 5.000.000 đồng; xe mô tô hiệu Honda, loại Click màu đen, biển số 59B1-050.85 trị giá 8.000.000 đồng; tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 53.167.000 đồng. Do đó, cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện phạm tội 03 lần, thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân, bị cáo có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản. Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng, phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với ông Võ Ngọc T, mua xe mô tô hiệu Yamaha, loại Jupiter màu đỏ, biển số 59B1-245.18 của bị cáo, ông T không biết là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý.
[3]. Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại bà Ngô Thị L, bà Trịnh Thị H, ông Nguyễn Đăng K đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Sau khi mua xe mô tô hiệu Yamaha, loại Jupiter màu đỏ, biển số 59B1-245.18 của bị cáo với giá 3.500.000 đồng; ông Võ Ngọc T bán lại cho ông Mai Văn Đ, là nhân viên của cửa hàng, với giá 4.000.000 đồng. Sau đó xe bị thu hồi trả lại cho bị hại, ông T đã trả lại cho ông Đ số tiền 4.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 3.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phan Ngọc Q 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2024.
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
Bản án số 571/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 571/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm trộm cắp tài sản, xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2024
