|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 571/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07/5/2024
V/v “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
- Bà Lê Thị Khanh.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Như Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu, Kiêm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1165/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị T, sinh năm 1992.
- Thường trú: Thôn N, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- (bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1985.
- Thường trú: Thôn I, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Nơi ở hiện nay: 221/60/25E tổ D, ấp E, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- (ông T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trịnh Thị T trình bày:
Bà Trịnh Thị T và ông Nguyễn Ngọc T1 tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương và đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 02 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở nhà chồng tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau đó, vào Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn và ở tại xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình vợ chồng chung sống chỉ hạnh phúc được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn do chồng ham chơi, không tu chí làm ăn dẫn đến nợ nần, ảnh hưởng kinh tế gia đình. Vợ chồng thường xuyên cãi vã với nhau khiến không khí luôn ngột ngạt, không hạnh phúc. Tháng 11 năm 2019, mâu thuẫn đến mức trầm trọng không thể tiếp tục chung sống nên bà T và con gái về quê ở cùng bố mẹ đẻ, còn ông T1 vẫn ở lại Thành phố Hồ Chí Minh. Hai bên sống ly thân từ đó đến nay, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc cho nhau.
Nhận thấy cuộc sống chung không có hạnh phúc, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không thể hàn gắn, không thể đem lại hạnh phúc cho nhau, bản thân bà T không còn yêu thương, không còn muốn chung sống với ông T1. Do đó, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T1 để bà sớm ổn định lại cuộc sống.
- - Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn A, sinh ngày 06/4/2018. Con chung hiện nay đang ở tại thôn N, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và do bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi trẻ Anh trưởng thành tròn 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nghĩa vụ dân sự chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Bà T tự nguyện chịu.
- Tại phiên tòa hôm nay, bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Tại bản tự khai, bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1 trình bày:
Ông T1 và bà Trịnh Thị T tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 02 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Sau khi kết hôn, vợ chồng vào huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn, sinh sống đến năm 2018 thì bà T về quê tại xã X, huyện T ở đến nay. Vợ chồng không còn sống chung với nhau. Nay bà T đã có cuộc sống riêng, vợ chồng chung sống không còn phù hợp nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T. Hai bên tự nguyện ly hôn.
- - Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn A, sinh ngày 06/4/2018. Ông đồng ý sau ly hôn, giao cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi trẻ Anh trưởng thành tròn 18 tuổi. Ông tạm thời không cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nghĩa vụ dân sự chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định pháp luật.
- Tại phiên tòa hôm nay, ông T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trịnh Thị T khởi kiện ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T1. Đây là tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Ông Nguyễn Ngọc T1 là bị đơn hiện đang cư trú tại huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- [2] Nguyên đơn bà Trịnh Thị T và bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng trong vụ án.
- [3] Về quan hệ hôn nhân: Theo trình bày của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Trịnh Thị T và ông Nguyễn Ngọc T1 tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 10/2014, quyển số 01/2014 ngày 20 tháng 02 năm 2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo trình bày của nguyên đơn bà Trịnh Thị T và được bị đơn ông Nguyễn Ngọc T1 thừa nhận là trong quá trình chung sống, giữa hai bên có nhiều mâu thuẫn xảy ra. Vợ chồng không còn yêu thương và quan tâm, chăm sóc cho nhau, vợ chồng không còn chung sống, đã sống ly thân một thời gian dài. Tòa án đã tiến hành phiên hòa giải để bà T và ông T1 có thể hàn gắn gia đình, hòa giải những mâu thuẫn giữa hai bên, cùng nhau tiếp tục chung sống vợ chồng. Tuy nhiên, bà T trình bày là không còn yêu thương, không còn muốn chung sống cùng ông T1, bà T kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông T1. Ông T1 trình bày vợ chồng hiện nay chung sống không còn phù hợp nên đồng ý ly hôn với bà T và xin vắng mặt. Xét thấy hôn nhân giữa bà T và ông T1 lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trịnh Thị T là phù hợp.
- [4] Về con chung: Bà T và ông T1 có 01 con chung tên Nguyễn A, sinh ngày 06/4/2018. Con chung hiện nay đang ở cùng bà T và do bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T yêu cầu sau khi ly hôn được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi trẻ Anh trưởng thành tròn 18 tuổi. Ông T1 trình bày đồng ý sau ly hôn, giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trẻ Anh trưởng thành tròn 18 tuổi. Do đó, để ổn định tâm sinh lý, đảm bảo sự phát triển mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Nguyễn A cho bà Trịnh Thị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
- [5] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [6] Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [7] Về nghĩa vụ dân sự chung: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [8] Về án phí sơ thẩm: Án phí ly hôn do bà Trịnh Thị T chịu theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trịnh Thị T và ông Nguyễn Ngọc T1.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn A, sinh ngày 06/4/2018 cho bà Trịnh Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Thi hành ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi trẻ Anh trưởng thành tròn 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trịnh Thị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nghĩa vụ dân sự chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) do bà Trịnh Thị T, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014673 ngày 06/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) |
Bản án số 571/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 571/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T
