Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 570/2024/HS-ST

Ngày: 14/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phan Thị Mai Hương
  2. Ông Huỳnh Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 525/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 612/2024/QĐXXST–HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S, sinh năm: 1997 tại tỉnh Sóc Trăng; thường trú: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nơi ở: 33 tổ F, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh T và bà Lê Ngọc T1; chưa có vợ con; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị bắt, tạm giam ngày: 14/6/2024 (có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần).

- Bị hại: Bà Tống Thị Duy D, sinh năm: 1993.

Địa chỉ: 1, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Đỗ Trọng N, sinh năm: 1983.

Địa chỉ: A L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1]. Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 05/06/2024, Nguyễn Văn S đi bộ từ nơi ở tại thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Xa lộ H về thành phố T. Đến 02 giờ 00 phút ngày 06/06/2024, khi đến cổng sau Trường tiểu học K tại địa chỉ số A T, phường H, thành phố T, thì S nảy sinh ý định đột nhập vào trường để trộm cắp tài sản. Sự trèo tường bên phải cổng trường rồi bám trên hàng rào để đột nhập vào bên trong. Sau đó, S đi đến phòng phía trước có treo bảng “Lịch trực đội hỗ trợ thư viện” thì đẩy cửa bước vào. Tại bên phải cửa ra vào có 01 cánh cửa dẫn qua phòng khác, S mở tiếp cánh cửa đó, đi vào và tiến hành lục lọi, tìm kiếm thì thấy có 01 máy tính xách tay hiệu Dell để trong ngăn kéo bàn làm việc là tài sản của bà Tống Thị Duy D. Sự lấy chiếc máy tính trên rồi tiếp tục tìm kiếm xung quanh nhưng không thấy đồ vật gì khác có giá trị nên S đi theo hướng cũ để ra ngoài. Sự trở về phòng trọ và để máy tính trên đầu tủ quần áo rồi lên giường đi ngủ.

Đến 13 giờ 00 phút cùng ngày, S cầm máy tính đi bộ đến Trung tâm C tại địa chỉ số I Quốc lộ A, phường L, thành phố T, do ông Đỗ Trọng N làm chủ, bán lại với giá 2.000.000 đồng. Do ông N không có tiền mặt nên S đã để lại máy tính, lấy số điện thoại liên lạc rồi đến tiệm thuốc tây của bà Lê Thị Kim L tại địa chỉ số D tổ F, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, nhờ bà L cho mượn số tài khoản để S nhận tiền bán máy tính. Sau khi bà L nhận được 2.000.000 đồng từ ông N thì bà L đã rút tiền mặt và đưa cho S số tiền 2.000.000 đồng. Qua truy xét, Công an đã bắt giữ S.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 130-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 11/06/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 laptop hiệu Dell Inspiron 14 5402, chip Intel core i5 1135G7, Ram 8GB, SSD 512 GB, màu trắng, đã qua sử dụng có trị giá là 7.933.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • 01 máy tính xách tay hiệu D1 14 5402, chip Intel core i5 1135G7, Ram 8GB, SSD 512 GB, màu trắng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Tống Thị Duy D.
  • 01 USB chứa dữ liệu điện tử được trích xuất từ camera tại hiện trường ghi nhận diễn biến vụ án, lưu trong hồ sơ vụ án.

Trách nhiệm dân sự:

  • Bà Tống Thị Duy D đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
  • Ông Đỗ Trọng N không yêu cầu Nguyễn Văn S trả lại số tiền 2.000.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 491/CT-VKSTPTĐ ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn S phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ xác định: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 06/6/2024, tại Trường tiểu học K, số A T, phường H, thành phố T, bị cáo Nguyễn Văn S trèo tường vào và lén lút lấy 01 máy tính xách tay hiệu Dell của bà Tống Thị Duy D. Sau khi lấy được máy tính, bị cáo mang đến đến Trung tâm C do ông Đỗ Trọng N làm chủ và bán được 2.000.000 đồng. Quy truy xét, bị cáo bị phát hiện và bắt giữ, đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Theo kết quả định giá thì máy tính xách tay hiệu Dell trị giá 7.933.000 đồng. Do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng, phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với ông Đỗ Trọng N, mua máy tính của bị cáo, ông N không biết là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với bà Lê Thị Kim L cho bị cáo mượn tài khoản để ông Đỗ Trọng N chuyển khoản tiền. Bà L không biết đây là số tiền bị cáo bán máy tính do trộm cắp được nên không có căn cứ để xử lý.

[3]. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • Bị hại bà Tống Thị Duy D đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Ông Đỗ Trọng N không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 2.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • 01 USB chứa dữ liệu ghi nhận diễn biến vụ án, lưu trong hồ sơ vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024.

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP. Thủ Đức;
  • - Nhà tạm giữ CA TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; NQLNVLQ;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Nga

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 570/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 570/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội trộm cắp tài sản, xử phạt 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger