|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số:57/2024/HS-ST Ngày: 31-7-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Quân;
Ông Phạm Ngọc Dụ
Thư ký phiên toà: Ông Trần Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 06/6/1976 tại xã X huyện X, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc M và bà Phạm Thị L; bị cáo có vợ là Đoàn Thị L1, sinh năm 1977 và có 03 con, con lớn sinh năm 1998 con nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 25/7/2012 bị Công an huyện X xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền (đã chấp hành xong). Ngày 25/02/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân trường xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã chấp hành xong ngày 06/7/2015).
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/4/2024, đến ngày 29/4/2024 chuyển tạm giam; tại phiên tòa bị cáo có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Thu T1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N; có mặt
- Người chứng kiến: Ông Bùi Đức T2. “ vắng mặt”;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 6 giờ 00 phút ngày 23/4/2024, Trần Văn T đi bộ từ nhà ở xóm B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định đến khu vực Tổ B, Thị trấn X, huyện X tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Đến nơi T gặp một nam thanh niên lạ mặt không biết tên tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi biết người này có bán ma túy, T hỏi mua 100.000 đồng ma túy. Người thanh niên đồng ý nhận tiền rồi đưa cho T 01 ống nhựa nhỏ màu tím hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. T nhận, kiểm tra xác định là H cầm ở tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 6 giờ 30 phút cùng ngày T đang đi bộ trên đường D thuộc khu vực dân cư tổ B, Thị trấn X, huyện X thì bị tổ công tác Công an xã X phối hợp với Công an Thị trấn X đang làm nhiệm vụ thấy T có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra. Toản chấp hành, thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi mua ma túy về sử dụng cho bản thân và tự giác giao nộp 01 ống nhựa nhỏ ma túy vừa mua và khai nhận đó là H. Tổ công tác đã đưa T và vật chứng về trụ sở UBND Thị trấn X và mời người chứng kiến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong 01 ống nhựa nhỏ T giao nộp ký hiệu là M.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn T Cơ quan điều tra không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Theo Kết luận giám định số 823/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong phong bì được niêm phong ký hiệu là M gửi giám định là ma túy, loại ma túy: Heroine; khối lượng: 0,135 gam.
Cáo trạng số 58/CT-VKS, ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi như đã nêu trong Cáo trạng.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tội danh, tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt: Xử phạt Trần Văn T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị Hội đồng xét xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c
khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy số Heroine trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 823/GĐKTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N; (M: 0,108 gam Heroine).
Bị cáo không có tranh luận gì với Viện kiểm sát viên.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T trình bày: Bị cáo Trần Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý) theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên khi lượng hình phạt đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là bị cáo thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải, bố bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến, vợ bị cáo mắc bệnh ung thư, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khán nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Để tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm cũng như bị cáo sớm trở về hoà nhập với cộng đồng đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Bị cáo nhất trí với lời trình bày của người bào chữa.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số Heroine thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 23/4/2024, Trần Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,135 gam Heroine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang tại Tổ B, Thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định. Vì vậy, hành vi của bị cáo Trần Văn T cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ
luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra phiên tòa ngày hôm nay là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước về các chất gây nghiện. Tính nguy hiểm của hành vi còn thể hiện ở chỗ: Tệ nạn ma tuý đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, nó không chỉ huỷ hoại sức khoẻ của người nghiện mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, bần cùng; là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật tự, an toàn xã hội; bị cáo Trần Văn T là người nghiện, có nhận thức đầy đủ về tác hại, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội về ma túy, song bị cáo vẫn phạm tội. Bị cáo đã bị xử phạt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý song bị cáo không lấy đó để làm bài học bản thân mà tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần phải xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn, ăn năn hối cải, bố bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt.
[5] Từ những phân tích trên, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khởi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thởi đấu tranh phòng ngừa chung và phù hợp với chính sách pháp luật hình sự đối với loại tội phạm này.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghiện ma tuý nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[7] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Số H đã thu giữ là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.
[8] Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho T, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể ngoài ra không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X không có căn cứ để xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo; Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy số Heroine trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 823/GĐKTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N. (M: 0,108gam Heroine).
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 79 /CCTHA ngày 10//7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Nam Định;
- - VKSND tỉnh Nam Định;
- - VKSND huyện
- - Chi cục THADS huyện
- - Công an huyện
- - UBND xã X
- - Bị cáo;
- - Hồ sơ vụ án;
- - Lưu văn phòng.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Long |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma tuý
