|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST Ngày 30/9/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ Thị Thu Ba.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Khắc Dũng.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoài Đông – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tham gia phiên tòa: ông Cao Văn Tiến – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Ea Kar xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 245/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/9/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk: (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk: (vắng mặt lần 02 không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-Tại đơn khởi kiện ghi ngày 23/4/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị D trình bày:
Về hôn nhân: Tôi (D) và ông Nguyễn Văn B sau một thời gian tìm hiểu thì có nguyện vọng chung sống, kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện E, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 21/10/2011, trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán. Vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn và kéo dài. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách, quan điểm sống không hòa hợp, vợ chồng không có sự tin tưởng và thông cảm cho nhau, ông B hay đánh đập tôi và có tình cảm với người phụ nữ khác nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, không tôn trọng nhau, không tìm được tiếng nói chung. Đến tháng 7/2017, chúng tôi ly thân cho đến nay và đến tháng 4/2023 tôi có nộp đơn xin ly hôn đến Tòa án nhân dân huyện Ea Kar nhưng được Tòa án động viên hòa giải nên tôi rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông B vẫn không thay đổi. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, chúng tôi không còn tình cảm với nhau nên tôi yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Văn B.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng tôi có 02 con chung Nguyễn Hoàng Phi L, sinh ngày 10/5/2012 và ông Nguyễn Ngọc Hải Y, sinh ngày 12/9/2014. Hiện nay, tôi làm nhân viên quản lý của công ty M, thu nhập hàng tháng trung bình 14.000.000đ/tháng, thu nhập ổn định, trong khi ông B thường xuyên đi làm xa không có mặt ở nhà. Ngoài ra, sau khi ly thân thì cả 02 con chung L và Y do tôi chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, tôi có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 02 con chung Nguyễn Hoàng Phi L và Nguyễn Ngọc Hải Y đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Trong quá trình chúng sống, vợ chồng tôi được bà Nguyễn Thị T cho tài sản là quyền sử dụng đất số BO 065229 mang tên bà Nguyễn Thị T chưa làm thủ tục sang tên cho vợ chồng tôi. Vợ chồng tôi đã xây dựng 01 căn nhà cấp 4 và trồng một số cây lâu năm trên đất nên tôi khởi kiện yêu cầu được chia ½ số tài sản trên. Tuy nhiên, đối với yêu cầu này tôi xin rút, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần. Các thủ tục tố tụng được giao hợp lệ cho bị đơn ông Nguyễn Văn B nhưng đương sự đều cố tình vắng mặt. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Ea Kar quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar phát biểu ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho bà Phạm Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Văn B; Về con chung: giao con chung là Nguyễn Hoàng Phi L, sinh ngày 10/5/2012 và ông Nguyễn Ngọc Hải Y, sinh ngày 12/9/2014 cho bà Phạm Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi 02 con chung L và Y đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung: đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thảo luận đánh giá tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Thị D khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Văn B. Đây là quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn ông Nguyễn Văn B được Toà án triệu tập tham gia phiên toà hợp lệ đến lần 2 nhưng đều vắng mặt không lý do. Như vậy, đương sự đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh trước toà. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Văn B là có căn cứ phù hợp điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa khẳng định quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, Tòa án thực hiện đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét lời khai của đương sự và tài liệu trong hồ sơ vụ án, xác định: bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Văn B tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 21/10/2011 (được cấp giấy chứng nhận kết hôn lưu hồ sơ vụ án) nên hôn nhân giữa bà D và ông B là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ vào biên bản xác minh chính quyền địa phương nơi các đương sự cư trú phù hợp với lời khai của nguyên đơn trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, xác định: bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Văn B chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, kéo dài và ly thân cho đến nay. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không có sự tin tưởng nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, xích mích trong cuộc sống. Như vậy, xét tình trạng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà D xác định tình cảm vợ chồng không còn. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Phạm Thị D là có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, cần chấp nhận.
[3] Về con chung: Theo kết quả xác minh và lời trình bày của nguyên đơn nhận thấy: hiện nay, bà D đang làm công nhân, thu nhập ổn định, trong khi ông B thường xuyên đi làm ăn xa. Ngoài ra, sau khi ly thân thì con chung Nguyễn Hoàng Phi L và ông Nguyễn Ngọc Hải Y do bà Phạm Thị D nuôi dưỡng. Vì vậy, yêu cầu của nguyên đơn bà D được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hoàng Phi L, sinh ngày 10/5/2012 và ông Nguyễn Ngọc Hải Y, sinh ngày 12/9/2014 là có căn cứ, phù hợp với các Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân gia đình, cần chấp nhận.
[4] Về cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
Ông Nguyễn Văn B có quyền đi lại thăm nom con chung và không bị cản trở. Tuy nhiên, ông B không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xin rút yêu cầu về việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, việc rút yêu cầu này là sự tự nguyện. Do đó, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX đình chỉ đối với yêu cầu về phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bà D.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a Khoản 5 tiểu mục 1.1 mục 1 phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Nguyên đơn bà Phạm Thị D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí do ông Trần Thanh T1 nộp thay theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0000467 ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
Hoàn trả cho nguyên đơn bà Phạm Thị Duyên S tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí DS-ST do ông Trần Thanh T1 nộp thay theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0000468, ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện EaKar.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm c Khoản 1 Điều 217; điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình; điểm a Khoản 5 tiểu mục 1.1 mục 1 phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Về hôn nhân: Tuyên xử bà Phạm Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Phi L, sinh ngày 10/5/2012 và ông Nguyễn Ngọc Hải Y, sinh ngày 12/9/2014 cho bà Phạm Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Ông Nguyễn Văn B có quyền đi lại thăm nom con chung và không bị cản trở. Tuy nhiên, ông B không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Đình chỉ giải quyết yêu cầu phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của nguyên đơn bà Phạm Thị D.
- Về nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn bà Phạm Thị D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí do ông Trần Thanh T1 nộp thay theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0000467 ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
Hoàn trả cho nguyên đơn bà Phạm Thị Duyên S tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí DS-ST do ông Trần Thanh T1 nộp thay theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0000468, ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện EaKar.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ nơi đương sự cư trú.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Thu Ba |
Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Duyên khởi kiện xin ly hôn Nguyễn Văn B
