Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SỐP CỘP

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 57/2024/HS-ST

Ngày: 30-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu Trung tâm, Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lò Văn Dưỡng.
  2. Bà Tòng Thị Trang.

- Thư ký phiên toà:

Bà Cầm Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên tòa:

Ông Mai Văn Quyết – Kiểm sát viên.

- Người tham gia tố tụng:

Bị hại chị Quàng Thị C, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Bản H, xã S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Tại điểm cầu T, nhà tạm giữ Công an huyện S

- Những người tiến hành tố tụng:

  • + Bà Đinh Thị Á, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp.
  • + Ông Giàng A M - Kiểm sát viên Viện Kiểm sát huyện S.

- Người tham gia tố tụng:

  • + Bị cáo: Lò Văn K.
  • + Cán bộ, Chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Các đồng chí Lù Quang H, Hoàng Hải D.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm thuộc Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp và điểm cầu thành phần thuộc Nhà tạm giữ Công an huyện S, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 15/8/2024, đối với bị cáo:

2

Lò Văn K, tên gọi khác: Không, sinh năm 2003; số định danh cá nhân: 014203014164; nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Lò Văn H1 (đã chết) và con bà: Lò Thị B; vợ, con: Chưa có.

- Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0006841/QĐ-XPHC ngày 16/02/2023 của Công an huyện S xử phạt Lò Văn K 2.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Tiền án: Bản án số 62/2023/HS-ST ngày 21/03/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xử phạt Lò Văn K 01 năm 02 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 27/5/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

- Người Bào chữa cho bị cáo: Bà Lường Thị T – Luật sự thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 16/5/2024, Lò Văn K, sinh năm 2003 trú tại bản Mường Lạn, xã M, huyện S có nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho chị Quàng Thị C, sinh năm 1992 trú tại bản Hua Mường, xã S, huyện S (là chị họ của K) hỏi chị C “chị có biết chỗ nào cho vay tiền không", chị C trả lời “muốn vay bây giờ chỉ có vay qua Fe credit và chị sẽ dẫn em đi vay”. Đến khoảng 14 giờ 40 cùng ngày, K một mình đi bộ đến quán của chị C để nói chuyện vay tiền, chị C có nói với K các điều kiện để vay tiền qua hệ thống tín dụng Fe credit rồi bảo K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, biển kiểm soát 26B2-844.73 của chị C để chở chị C đi cùng sang phòng giao dịch vay tiền ở gần khu vực B huyện S thuộc bản S, xã S, Số P. Khi đến phòng giao dịch, K vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa điện của xe mô tô, rồi cùng với chị C đi vào bên trong quầy để làm các thủ tục vay tiền. Do nghiện sử dụng ma tuý, K đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của chị C để làm phương tiện đi mua ma túy nên K nói dối chị C là “em quên thẻ căn cước công dân ở bên quán chị rồi, chị đợi em để em chạy đi lấy" nhưng thực tế thẻ căn cước công dân K đang cất ở trong túi quần bên phải, sau đó K đi ra ngoài điều khiển chiếc xe mô tô của chị C đi về hướng huyện S, tỉnh Sơn La. Trên đường đi chị C có gọi điện thoại và nhắn tin nhiều lần bảo K mang trả lại xe mô tô nhưng K đều đưa ra thông tin gian dối để không trả xe mô

3

tô lại cho chị C. Sau đó, K một mình điều khiển xe mô tô đi đến khu vực bản B, xã C, huyện S dùng miếng nhựa cạo hết lớp sơn đen trên biển kiểm soát để tránh bị phát hiện. Sau đó K bán chiếc điện thoại di động cho một người không rõ lai lịch để lấy tiền chi tiêu và mua ma tuý để sử dụng. Sau đó, K gặp anh trai họ là Lường Văn H2, sinh năm 1992, trú tại bản Kéo, xã N, huyện S và cùng H2 đi đến lán nương của H2 tại khu vực xã N, huyện S để cùng sử dụng ma túy và nghỉ lại ở đó. Đến ngày 27/5/2024, chị C không thấy K mang xe mô tô về trả nên đã có đơn trình báo đến Cơ quan CSĐT Công an huyện S. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện S phối hợp với Công an xã P, huyện M, tỉnh Sơn La phát hiện K đang điều khiển xe mô tô của chị C đi đổ xăng xe ở khu vực xã P, huyện M, tỉnh Sơn La nên đã yêu cầu K về trụ sở Công an huyện S để làm việc, tạm giữ của K 01 chiếc xe mô tô và 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lò Văn K.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định nơi xảy ra vụ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại phòng giao dịch qua hệ thống tín dụng Fe credit thuộc Ngân hàng V tại bản Sốp Nặm, xã S, huyện S. Qua khám nghiệm xác định được vị trí K để ở mô tô của chị C khi vẫn cắm chìa khóa điện; vị trí của K, chị C và nhân viên phòng giao dịch ngồi khi K đưa ra thông tin gian dối và chiếm đoạt chiếc xe mô tô của chị C phù hợp với lời khai của bị hại và bị can.

Ngày 28/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã yêu cầu định giá tài sản số 648/YC-HSKTMT đối với chiếc xe mô tô Lò Văn K đã chiếm đoạt của chị C.

Tại Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐG ngày 03/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện S, kết luận: “01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE a, sản xuất năm 2015, màu sơn trắng, đen, bạc; biển kiểm soát 26B2-844.73; số khung RLHHC1212DY774456, số máy HC12E5774536, đăng ký sang tên ngày 26/4/2022, tình trạng đã qua sử dụng, có giá là 10.500.000 đồng (Mười triệu, năm trăm nghìn đồng)”

Về vấn đề dân sự: Sau khi nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô do Lò Văn K đã chiếm đoạt, chị Quàng Thị C không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Cáo trạng số: 44/CT-VKSSC ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, truy tố Lò Văn K về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

- Bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử là không oan sai.

4

- Bị hại chị Quàng Thị C xác nhận: Chị và bị cáo có quan hệ gia đình. Ngày 16/5/2024, sau khi hỏi mượn được xe mô tô của chị, bị cáo đã sử dụng nhiều ngày không trả, mặc dù chị đã gọi điện và nhắn tin nhiều lần, chị đã trình bào trình báo cơ quan chức năng đề nghị xử lý. Nay chị đã được cơ quan Cảnh sát Điều tra công an huyện S trả lại chiếc xe mô tô nên không còn yêu cầu gì thêm và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Kiểm sát viên sau khi trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 16 đến 20 tháng tù. Bị cáo không có tài sản, là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và được miễn án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo.

- Luật sư Bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; tại phiên toà được người bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.

- Kiểm sát viên đối đáp: Chấp nhận đề nghị của Luật sư là cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Còn đối với đề xuất mức án của Luật sư ở mức 15 tháng tù thì Viện kiểm sát không đồng ý, vì bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xoá tiền án và tiền sự.

- Luật sư - Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận và nhất trí với quan điểm bào chữa của Luật sư.

- Bị hại cũng không có ý kiến tranh luận.

Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an huyện S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra,

5

truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo; người bào chữa; bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định tội danh:

- Ngày 16/5/2024, tại bản S, xã S, huyện S, Lò Văn K sau khi nẩy ý định chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô của chị Quàng Thị C đã đưa ra thông tin gian dối để chị C tin, sau đó chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, biển kiểm soát 26B2-844.73 của chị Quàng Thị C nhằm mục đích sử dụng để làm phương tiện đi mua ma tuý và nhằm bán chiếc xe mô tô lấy tiền tiêu sài cá nhân. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt theo Kết luận định giá tài sản là 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng).

- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng bị thu giữ; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Lò Văn K đã phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Do đó, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm quyền quản lý tài sản của người khác, hành vi phạm tội của bị cáo gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân và gây bức xúc tình hình địa phương.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là người sử dụng ma tuý.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là (Tái phạm), quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, căn cứ tại bản án số 62/2023/HS-ST ngày 21/03/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xử phạt bị cáo 01 năm 02 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (chưa được xoá án tích). Ngoài ra, bị cáo còn có 01 tiền sự, chưa được xoá tiền sự, do bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức

6

phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, đến nay chưa thi hành.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan Điều tra và tại phiên toà (người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được người bị hai có ý kiến giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo). Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.

[5] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án:

- Đối với Lường Văn H2 theo bị cáo khai đã cùng bị cáo sử dụng ma túy tại khu vực xã N, huyện S vào ngày 16/5/2024. Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra công an huyện S đã triệu tập, xác minh nhiều lần nhưng H2 không có mặt tại phương nên Cơ quan Điều tra không có cơ sở để làm rõ là có căn cứ, cần chấp nhận.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, biển kiểm soát 26B2-844.73 cơ quan Điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định. Tại phiên toà bị hại chị Quàng Thị C không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Vật chứng của vụ án: Còn lại 01 (một) Thẻ căn cước công dân số [...], mang tên Lò Văn K, cần xem xét trả lại cho bị cáo.

[7] Về dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản và không còn yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về hình phạt bổ sung và án phí: Bị cáo không có tài sản, là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và được miễn án phí.

[9] Về đề xuất mức án của Kiểm sát viên và Luật sư: (Kiểm sát viên từ 16 đến 20 tháng tù; Luật sư từ 15 đến 18 tháng tù) là phù hợp. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cần cân nhắc, xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nhằm đưa ra mức án đúng mức.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

7

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn K phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Xử phạt: Lò Văn K 01 năm 06 tháng tù (một năm sáu tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/5/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo: 01 (một) Thẻ căn cước công dân số [...], mang tên Lò Văn K.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 44 ngày 30/7/2024 của Viện kiểm sát huyện S và biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an sự huyện S, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 30/8/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Sốp Cộp;
  • - THA hình sự;
  • - CCTHA Dân sự huyện Sốp Cộp;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lường Văn Quyết

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn K phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger