|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST Ngày 30 tháng 7 năm 2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: | Bà Lê Thị Thu Huyền |
| Các hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Phẩm |
| Bà Bùi Thị Hảo | |
| - Thư ký phiên toà: | Bà Hoàng Thị Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham phiên tòa: | Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên trung cấp. |
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2024/TLST- HNGĐ ngày 03/5/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXX- ST ngày 04/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 482/2024/QĐ – ST ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1992; Địa chỉ: Khu A, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Hiện ở: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Lương Thanh L, sinh năm 1988; Địa chỉ: Khu A, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Hiện đang ở Hàn Quốc.
(Chị H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, anh L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lương Thanh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 01/4/2013 tại Ủy ban nhân dân xã B (Nay là xã B) huyện P, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu lấy nhau hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống cùng bố mẹ anh L tại khu A, xã B (N là xã B) huyện P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra những mâu thuẫn nhỏ, mâu thuẫn đỉnh điểm là năm 2019 khi anh L sang Hàn Quốc theo con đường du lịch và ở lại Hàn Quốc luôn không trở về Việt Nam. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống xa nhau thời gian dài nên tình cảm lạnh nhạt dần, không còn sự quan tâm, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau. Hiện nay anh L vẫn đang sinh sống, làm việc tại Hàn Quốc và chưa quay trở lại Việt Nam. Khoảng đầu năm 2020 chị và con trai đã chuyển về sinh sống cùng với bố mẹ đẻ của chị tại khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lương Thanh L.
Về con chung: Chị và anh L có 01 con chung là cháu Lương Bảo A, sinh ngày 17/4/2014. Hiện nay cháu A đang ở cùng chị. Khi ly hôn chị xin đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu A và không yêu cầu anh L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, công sức đóng góp, công nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Chị H yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Hiện anh L đang ở Hàn Quốc, chị không có địa chỉ của anh L nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xác minh, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của bà Hoàng Thị T, sinh năm 1965 (Là mẹ đẻ anh L); địa chỉ: Khu A, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ để làm căn cứ giải quyết việc ly hôn của chị.
Bị đơn anh Lương Thanh L: Hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc, không có địa chỉ cụ thể, Tòa án thực hiện tống đạt toàn bộ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh L thông qua mẹ đẻ anh L là bà Hoàng Thị T, tuy nhiên đến nay anh L chưa có bất kỳ quan điểm gì gửi cho Tòa án.
Bà Hoàng Thị T (Là mẹ đẻ của anh L) trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Lương Thanh L. Hiện nay anh L đang đi lao động tại Hàn Quốc. Anh L vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình qua mạng xã hội nhưng không nói rõ cụ thể ở đâu tại Hàn Quốc nên bà không thể cung cấp địa chỉ của anh L ở nước ngoài cho Tòa án được. Việc chị H làm đơn xin ly hôn với anh L, bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật, bà nhất trí nhận và thông báo nội dung các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh L biết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án đã tiến hành theo đúng các quy định tại Bộ Luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Minh H.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Minh H được ly hôn với anh Lê Thanh L1.
Về con chung : Giao cho chị Nguyễn Thị Minh H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lương Bảo A, sinh ngày 17/4/2014. Anh Lương Thanh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H do chị H không yêu cầu.
Anh Lương Thanh L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, công sức, công nợ chung: Do chị H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe đương sự trình bày, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh H nộp đơn xin ly hôn anh Lương Thanh L tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Chị H và anh L đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại huyện P, tỉnh Phú Thọ. Trong đơn xin ly hôn, chị H trình bày hiện nay anh L đang sống và làm việc tại Hàn Quốc. Tại văn bản số 6027/QLXNC- P3 ngày 26/3/2024 của Cục Q – Bộ C (BL 15) xác nhận: “Lương Thanh L, sinh ngày 17/02/1988, đã xuất nhập cảnh 3 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 08/01/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Quan hệ tranh chấp được xác định trong vụ án là quan hệ “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Chị Nguyễn Thị Minh H vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, ông Lương Thanh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Minh H và anh Lương Thanh L có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn 01/4/2013 tại Ủy ban nhân dân xã B (Nay là xã B), huyện P, tỉnh Phú Thọ, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị H trình bày quá trình chung sống vợ chồng sống xa nhau thời gian dài nên không có sự quan tâm, sẻ chia, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng đã sống ly thân khi anh L đi nước ngoài cho đến nay. Hiện nay anh L vẫn đang lao động tại Hàn Quốc và chưa quay trở lại Việt Nam. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với anh Lương Thanh L.
Anh Lương Thanh L hiện đang ở nước ngoài, chị Nguyễn Thị Minh H chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của anh L, không cung cấp được địa chỉ của anh L ở nước ngoài cho Tòa án nên đã đề nghị Tòa án xác minh thu thập chứng cứ thông qua bà Hoàng Thị T, sinh năm 1965 (Là mẹ đẻ anh L); địa chỉ: Khu A, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Bà T xác nhận anh L hiện đang đi lao động tại Hàn Quốc, anh L vẫn thường xuyên gọi điện về cho gia đình bà, gia đình bà vẫn gọi diện sang Hàn Quốc cho anh L nhưng anh L không cho bà biết địa chỉ cụ thể ở Hàn Quốc nên bà không thể cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh L ở Hàn Quốc cho Tòa án được. Do vậy Tòa án không thể thực hiện ủy thác tư pháp cho anh L theo quy định. Căn cứ công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Mặc dù anh L không có bản tự khai tại Tòa án nhưng Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án cho anh
3
L thông qua mẹ đẻ anh L là bà Hoàng Thị T. Bà T nhận và cam kết sẽ thông báo toàn bộ nội dung các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh L.
Hội đồng xét xử xét thấy chị H và anh L đã không chung sống cùng nhau và vợ chồng sống xa nhau thời gian dài, không có sự quan tâm chia sẻ trong cuộc sống gia đình nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị Nguyễn Thị Minh H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lương Thanh L là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do vậy, đề nghị xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Minh H được chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Từ những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ xác định chị H và anh L có một con chung là Lương Bảo A, sinh ngày 17/4/2014. Khi ly hôn chị H đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay anh L đang ở nước ngoài, hơn nữa nguyện vọng của cháu A là xin được ở với mẹ, do vậy để đảm bảo cuộc sống, sinh hoạt, học tập của cháu A nên cần giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu A là phù hợp. Anh L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị H do chị H không yêu cầu là phù hợp nên cần được chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung, về công nợ, công sức đóng góp: Chị H xác định vợ chồng không có và không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Minh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[3] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 123, Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 179, khoản 2 điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1, 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Minh H.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Minh H được ly hôn với anh Lương Thanh L.
- Về con chung: Giao con chung là Lương Bảo A, sinh ngày 17/4/2014 cho chị Nguyễn Thị Minh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Lương Thanh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng cùng chị H do chị H không yêu cầu.
Không ai được cản trở quyền gặp gỡ và thăm nom con chung.
- Về tài sản chung, công nợ chung, công sức: Chị H xác định vợ chồng không có và không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Minh H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số: 0000288 ngày 03/5/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thihành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ khi nhận được Bản án để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Thu Huyền |
5
6
Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị H và anh L
