Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HS-ST

Ngày 30-5-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Hiếu

Bà Mai Thị Duyên

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An,

thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng

tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận HảiKiÕn An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Hồng T, sinh ngày 25/01/1981 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: SỐ G đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số E đường P, TDP P phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 và con bà Hà Thị X; bị cáo có vợ là Trịnh Thị Thanh T2 và có 01 con sinh năm 2010; tiền án: 01 tiền án: Bản án sơ thẩm số 43/2012/HSST ngày 20/8/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử 13 năm tù và phạt tiền 10.000.000 đồng về tội Mua bán trái phép chất ma túy; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Chị Nguyễn Thị L; vắng mặt.
  2. Ông Phạm Văn T3; vắng mặt.
  3. Ông Lê Hữu H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 15 phút ngày 28/01/2024, Phạm Hồng T điều khiển xe máy điện nhãn hiệu DK BIKE, số loại ROMA, màu đen, BKS: 15MĐ1-750.09 chở bạn gái là Nguyễn Thị L, sinh năm 1990, địa chỉ: Số C L, Ngô Q, Hải Phòng đi chơi thì L1 (chưa xác minh được nhân thân lai lịch) nhắn tin hẹn gặp và nhờ T mua hộ L1 01 coóng thủy tinh để sử dụng ma túy. L1 nhắn sẽ chuyển khoản cho T tiền mua coóng thủy tinh, đồng thời hỏi T có địa điểm sử dụng ma túy không thì L1 sẽ chia cho T một nửa ma túy để sử dụng. Do đang đi cùng với L nên T từ chối đi mua hộ và nhắn tin lại là sẽ cho L1 01 coóng thủy tinh gãy của T. L1 đồng ý nên T điều khiển xe máy điện chở L quay về nhà tại địa chỉ: Số E đường P, TDP P phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng để lấy coóng. Về đến nhà T, L đứng ngoài chờ còn T đi vào trong phòng ngủ của mình lấy 01 coóng thủy tinh gãy dài khoảng 7 cm rồi điều khiển xe máy điện chở L đi đến khu vực đường N, N, H, Hải Phòng để gặp L1. Khi đi đến khu vực đầu ngõ A N, N, H, Hải Phòng, L xuống xe đứng chờ, T một mình điều khiển xe đi vào khu vực giữa ngõ thì thấy L1 một mình đi bộ từ phía cuối ngõ về phía T. T đưa cho L1 01 coóng thủy tinh gãy và hỏi L1 về số tiền 4.200.000 đồng mà L1 đang nợ T thì L1 hẹn 02 ngày nữa sẽ trả. Quá trình nói chuyện, L1 rút từ trong người ra 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu đỏ và lấy 01 điếu hút. Khi thấy L1 hút thuốc thì T có xin L1 01 điếu để hút, L1 đồng ý. L1 rút 01 điếu đưa cho T rồi đưa cho T cả bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu đỏ mà L1 đang cầm và nói: “Cứ cầm về chơi đi”. T cầm và sờ thấy khu vực ở giữa vỏ bao thuốc lá phồng nhẹ. Do trước đó L1 đã nhắn tin là sẽ cho T ma túy về sử dụng nên T biết có ma túy giấu ở giữa vỏ bao thuốc lá. Thái cất bao thuốc lá vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc, điều khiển xe máy điện BKS 15MĐ1-750.09 đi ra chỗ L đang đứng chờ. T không nói cho L biết về việc L1 cho T ma túy.

Trên đường đi về, T nhờ L lấy và châm hộ 01 điếu thuốc lá để hút. L đồng ý và sờ tay vào trong túi quần phía trước bên phải của T thì tìm thấy 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu đỏ. Lan đút bao thuốc lá trên vào trong túi áo khoác phía trước bên phải mà L đang mặc rồi tiếp tục sờ túi quần của T để tìm bật lửa. Lúc này, khoảng 21 giờ 15 cùng ngày, tại khu vực trước cửa nhà số I N, N, H, Hải Phòng, TL bị Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận H, Hải Phòng phối hợp với Công an phường T, H, Hải Phòng kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ bên trong túi áo khoác phía trước bên phải mà L đang mặc 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu đỏ, ở giữa lớp giấy bạc và lớp vỏ bao thuốc lá có 01 túi nilon kích thước 2 x 2,5 cm đựng ma túy; thu giữ bên trong túi quần phía trước bên trái mà T đang mặc 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8, màu vàng lắp sim số 0927.559.139 và 01 xe máy điện nhãn hiệu DK BIKE, số loại ROMA, màu đen, BKS: 15MĐ1-750.09 mà T đang điều khiển..

Tại cơ quan điều tra, Phạm Hồng T khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên và khai nguồn gốc số ma túy mà Cơ quan Công an đã thu giữ là của L1 cho T để T đem về một mình sử dụng cho bản thân. Số ma túy này T không phải trả tiền cho L1. T cũng không trừ nợ cho L1 khi nhận số ma túy này. Khi TL1 nói chuyện thì L đứng ở đầu ngõ, cách xa và không nghe thấy nội dung nói chuyện của TL1. T không nói cho L biết về việc trong bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu đỏ mà L1 đưa cho T có ma túy. Do ma túy cất sâu ở giữa lớp giấy bạc và lớp vỏ bao thuốc lá, đồng thời bên trong bao thuốc lá còn nhiều điếu thuốc (gần như còn nguyên, chỉ thiếu 2-3 điếu) nên nếu mở ra lấy 01 điếu thì cũng không thể nhìn thấy gói ma túy nên T mới nhờ L châm hộ điếu thuốc. L cũng chưa mở bao thuốc lá ra xem.

Tại Bản kết luận giám định số 137/KL-KTHS ngày 31/01/2024, Phòng K Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,19 gam, là loại Methamphetamine.

Tại Biên bản xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test thử ngày 29/01/2024, Phòng K Công an thành phố H trả lời: Phạm Hồng TNguyễn Thị L đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine. T khai sáng ngày 25/01/2024, T một mình đi đến khu vực đường T, L, Hải Phòng gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 150.000 đồng tiền ma túy “đá” và 01 coóng thủy tinh. Người này trả lời chỉ có sẵn 01 coóng thủy tinh gãy, nếu T lấy thì sẽ cho T. T đồng ý. Sau đó T mang số ma túy này về nhà và một mình sử dụng hết. L khai tối ngày 23/01/2024, L một mình đi đến khu vực đường T, L, Hải Phòng gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng tiền ma túy “đá”. Sau đó, L mang số ma túy này về nhà và một mình sử dụng hết.

Tại bản Cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 07/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã truy tố Phạm Hồng T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo: Lượng ma túy bị cáo cất giấu trái phép để sử dụng mà Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố là 0,19 gam loại Methamphetamine. Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt Phạm Hồng T: Từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 01 bì thư niêm phong số 137MT/PC09 bên trong chứa toàn bộ khối lượng ma túy còn lại sau giám định thu giữ của Phạm Hồng T. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 8 màu vàng lắp sim số 0927.559.139 của Phạm Hồng T.

Đối với 01 xe máy điện nhãn hiệu DK BIKE, số loại ROMA, màu đen, BKS: 15MĐ1-750.09, tài liệu điều tra xác định chủ sở hữu xe là Bùi Sơn T4, sinh năm 1990, địa chỉ: Số B N, phường M, quận N,thành phố Hải Phòng. Anh T4 cho T mượn xe nhưng không biết việc T thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên ngày 12/4/2024, Cơ quan CSĐT – Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe này cho anh Bùi Sơn T4.

Nguyễn Thị L không biết bên trong bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu đỏ của Phạm Hồng T cất giấu trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý Nguyễn Thị L đồng phạm với Phạm Hồng T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị L vào ngày 23/01/2024, Cơ quan CSĐT - Công an quận H đã có Công văn số 737 ngày 17/4/2024 chuyển hồ sơ đến Công an phường L, N, Hải Phòng để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Hồng T vào ngày 25/01/2024, Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 51/QĐ-XPHC ngày 17/4/2024 theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng tên L1 đã cho T ma túy, T khai L1 sử dụng số thuê bao 0786.869.466. Qua điều tra chưa xác định được căn cước, lai lịch của L1 nên chưa có cơ sở để xử lý.

Đối với người bán ma túy cho Phạm Hồng TNguyễn Thị L tại khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, L, Hải Phòng, qua điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần nói lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối hận. Bị cáo gửi lời xin lỗi gia đình và xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hồng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 28/01/2024, tại khu vực trước cửa nhà số I N, N, H, Hải Phòng, Phạm Hồng T bị bắt quả tang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy có khối lượng 0,19 gam, là loại Methamphetamine (Thái cất giấu trong túi quần phía trước bên phải đang mặc, trên đường đi Thái nhờ L (bạn gái đang ngồi phía sau) lấy bao thuốc bên trong có cất giấu số ma túy lấy 1 điếu để hút, sau đó L đã cất giữ trong túi áo khác mình đang mặc, T không nói cho L biết, L cũng không biết bên trong bao thuốc lá có số ma túy T vừa được cho) với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Phạm Hồng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ, đúng pháp luật.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[3] Lượng ma túy mà bị cáo Phạm Hồng T có hành vi cất giấu trái phép là 0,19 gam ma túy loại Methamphetamine. Do đó, bị cáo bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

[5] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an chung và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó, cần xét xử nghiêm theo quy định của pháp luật. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân bị cáo cần xử bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Bị cáo Phạm Hồng T không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[7] Đối với 01 bằng bì thư có dấu niêm phong số 137MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H bên trong có số ma túy còn lại sau giám định thu giữ của Phạm Hồng T: Đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[8] Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8, màu vàng lắp sim số 0927.559.139 của Phạm Hồng T. T đã dùng liên lạc với L1 để trao đổi số ma túy nói trên nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[9] Đối với 01 xe máy điện nhãn hiệu DK BIKE, số loại ROMA, màu đen, BKS: 15MĐ1-750.09, tài liệu điều tra xác định chủ sở hữu xe là Bùi Sơn T4, sinh năm 1990, địa chỉ: Số B N, phường M, quận N, TP .. Anh T4 cho T mượn xe nhưng không biết việc T thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên ngày 12/4/2024, Cơ quan CSĐT – Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe này cho anh Bùi Sơn T4 theo đúng quy định của pháp luật.

[9] Nguyễn Thị L không biết bên trong bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu đỏ của Phạm Hồng T cất giấu trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý Nguyễn Thị L đồng phạm với Phạm Hồng T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

[10] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị L vào ngày 23/01/2024, Cơ quan CSĐT - Công an quận H đã có Công văn số 737 ngày 17/4/2024 chuyển hồ sơ đến Công an phường L, N, Hải Phòng để xử lý theo quy định của pháp luật.

[11] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Hồng T vào ngày 25/01/2024, Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 51/QĐ-XPHC ngày 17/4/2024 theo quy định của pháp luật.

[12] Đối với đối tượng tên L1 đã cho T ma túy, T khai L1 sử dụng số thuê bao 0786.869.466. Qua điều tra chưa xác định được căn cước, lai lịch của L1 nên chưa có cơ sở để xử lý.

[13] Đối với người bán ma túy cho Phạm Hồng TNguyễn Thị L tại khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, L, Hải Phòng, qua điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[14] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[15] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố Phạm Hồng T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hồng T 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/01/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 137MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8, màu vàng lắp sim số 0927.559.139 của Phạm Hồng T.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Hồng T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - CQĐT - Công an quận Hải An;
  • - Phòng PV 06 - Công an TP Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam - Công an TP Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Hải An;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger