Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 57/2023/HS-ST

Ngày 29/11/2023.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Cường.

Ông Trịnh Tiến Thanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Lệ Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với:

Bị cáo Nguyễn Trọng H, sinh năm 2000 tại Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng T và bà Lê Thị T1; gia đình có 4 người con, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; vợ con: chưa có;

Tiền án: Ngày 06/7/2022 bị TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2023 nhưng chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Ngày 25/4/2022 bị Công an huyện V, tỉnh Thanh Hóa xử lý vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thanh Hoá. Có mặt

Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1992. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1992.Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

Người chứng kiến: Anh Lê Đức T3, sinh năm 1974. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1964. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 ngày 31/7/2023, Đội CSĐT về Kinh tế - Ma túy làm nhiệm vụ tại thôn T, xã T, huyện H bắt quả tang Nguyễn Trọng H, sinh năm 2000, ở thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa có hành vi tàng trữ trái phép ma túy. Tại chỗ, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Trọng H 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ, kích thước khoảng (03x05)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng cục vụn; thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của H số tiền 900.000 đồng (gồm 03 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 04 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng), 01 điện thoại OPPO A57, màu xanh, gắn sim số 0869376388. Tại chỗ, Nguyễn Trọng H khai nhận chất bột màu trắng, dạng cục vụn chứa trong các gói nêu trên (đã niêm phong trong phong bì ký hiệu M1) là ma túy, loại Heroine, H tàng trữ với mục đích để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán. Số tiền 400.000 đồng (gồm 04 tờ 50.000 đồng và 01 tờ 200.000 đồng) là tiền vừa bán ma túy cho Nguyễn Văn T2, sinh năm 1992, ở thôn T, xã T, huyện H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trọng H tại thôn T, xã T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không thu giữ tài đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án. Ngày 01/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ban hành Quyết định trưng cầu giám định gửi đến Phòng K Công an tỉnh T giám định chất bột màu trắng, dạng cục vụn đã thu giữ của Nguyễn Trọng H.

Tại bản Kết luận giám định số 2867/KL-KTHS ngày 04/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,604g (không phẩy sáu không bốn gam), loại Heroine.

Nguyễn Trọng H đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H thông báo về nội dung Kết luận giám định và đồng ý với nội dung kết luận, không có ý kiến gì.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 11 giờ ngày 31/7/2023, Nguyễn Văn T2 đi bộ ra ngã tư phía sau UBND xã T gặp một nam thanh niên, T2 hỏi mượn và xin cuộc điện thoại. T2 gọi đến số 0869376388 của H nói “anh T2 đây, em có mua được ở đâu, mua cho anh cái” (H hiểu anh T2 hỏi mua ma túy được ở đâu mua cho anh T2 01 gói). H nói “em còn ít, anh lấy qua mà lấy” (Ý H1 nói H1 có ma túy, T2 mua H1 bán). T2 nói để cho T2 400.000 đồng, H1 đồng ý rồi tắt máy. T2 gọi điện lại nhưng H1 không nghe máy. H1 lấy túi ma túy đang bỏ trong túi quần cắt một ít bỏ vào mảnh giấy có dòng kẻ, rồi lấy mảnh nilon màu đen bọc lại để bán cho T2. Khoảng 5 phút sau, H1 gọi điện thoại lại cho T2 và hẹn T2 đi đến gần nhà H1. Khoảng 10 phút sau, T2 đi đến gần cây cột điện gần ngã ba, cách cổng nhà H1 khoảng 15m. T2 đưa cho H1 số tiền 400.000 đồng gồm 04 tờ 50.000 đồng và 01 tờ 200.000 đồng. H1 cầm tiền bỏ vào túi quần bên trái đang mặc và đưa cho anh T2 01 gói ma túy. Sau đó, H1 quay về nhà. T2 mang về nhà và sử dụng một mình bằng hình thức hút hết số ma túy đã mua của H1. Đến khoảng 11 giờ 30 phút thì Hậu bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang. Nguồn gốc số ma túy của Nguyễn Trọng Hậu b thu giữ và bán cho anh Nguyễn Văn T2, H1 khai khoảng 16 giờ ngày 30/7/2023, H1 đi xe khách ra bến xe N, Thành phố Hà Nội nhờ một người đàn ông không quen biết, khoảng 45 tuổi, đi xe ôm mua hộ 01 túi ma túy với giá 1.000.000 đồng, với mục đích vừa sử dụng và có ai hỏi mua thì bán. H1 đã bán cho Nguyễn Văn T2 01 gói, số ma túy còn lại bị bắt quả tang và thu giữ.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Trọng H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của H phù hợp với các tài liệu đã được điều tra, thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng vụ án:

- Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu M1 và 0,538g (không phẩy năm ba tám gam) chất bột màu trắng dạng cục vụn được đựng trong phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T4, Nguyễn Văn N1 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.

- 01 (một) điện thoại Oppo A57 màu xanh, đã qua sử dụng, gắn sim số 0869.376.388 thu giữ của Nguyễn Trọng H.

- Số tiền 400.000 đồng (gồm 04 tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng và 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng). Toàn bộ số vật chứng nêu trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để xử lý theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 55/CT-VKSHL ngày 23/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên, sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo từ 39 tháng đến 42 tháng tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 31/7/2023).

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, bản thân là người sử dụng ma tuý, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy đã niêm phong sau giám định là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh đã qua sử dụng, gắn sim số 0869.376.388 của Nguyễn Trọng H và 400.000₫ do phạm tội mà có.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo cải tạo, sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 31/7/2023 tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Trọng H đã bán 01 gói ma túy loại Heroin với giá 400.000đ cho Nguyễn Văn T2. Sau đó Nguyễn Văn T2 đã sử dụng hết số ma túy vừa mua được. Khi H đang ở nhà thì bị lực lượng Công an Hậu Lộc phát hiện bắt quả tang và thu giữ của Nguyễn Trọng H 01 túi nilon màu trắng viền đỏ kích thước khoảng (03x05)cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn và thu giữ trên người Hậu 900.000đ (trong đó 400.000₫ bán ma túy cho anh T2) và 01 điện thoại OPPO A57, màu xanh gắn sim số 0869.376.388.

Tại Kết luận giám định số 2867/KL-KTHS ngày 04/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì kí hiệu M1 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,604g (không phẩy sáu không bốn gam) loại Heroine (H)”.

Hành vi của Nguyễn Trọng H đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố bị cáo Nguyễn Trọng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo HĐXX thấy: Ngày 25/4/2022 bị cáo bị Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ Trộm cắp tài sản”; Ngày 06/7/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xử phạt 12 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt từ ngày 20/01/2023, nay lại phạm tội. Hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng H đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, gây nguy hại cho thể chất và tinh thần của con người, làm thui chột thế hệ tương lai, cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung cho xã hội và cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: HĐXX nhận định, bị cáo đã bị kết án về tội “ Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

[5] Về hình phạt: Từ những nhận định nêu trên, HĐXX cần cho bị cáo một mức án hình phạt tù nghiêm, nhưng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo. Song, HĐXX cũng xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo yên tâm cải tạo tốt và sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, bản thân là người nghiện ma tuý. Do đó HĐXX không áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: HĐXX nhận thấy, cần tịch thu tiêu hủy; tịch thu nộp ngân sách nhà nước những vật, tiền, công cụ, phương tiện trực tiếp liên quan đến tội phạm theo qui định tại Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.

[7] Tại phiên tòa HĐXX nhận thấy: Bản cáo trạng, quyết định truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là phù hợp, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của bản thân, lời nói sau cùng của bị cáo xin HĐXX xử phạt mức án thấp nhất để bị cáo chấp hành và cải tạo tốt sớm trở về hòa nhập với cộng đồng làm công dân chấp hành pháp luật tốt; người làm chứng: lời khai, lời trình bày có trong hồ sơ vụ án là phù hợp và trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan về tội phạm, về vụ án và cam đoan không khai báo gian dối; người chứng kiến: đã ký biên bản về hoạt động mà mình chứng kiến, trình bày trung thực về những tình tiết mà mình chứng kiến.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí HSST theo qui định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng H 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 31/7/2023).

Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi Phòng K Công an tỉnh T, niêm phong mẫu vật có 06 dấu đỏ và chữ ký của (Lê Minh T4 và Nguyễn Văn N1); Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh, đã qua sử dụng, gắn sim số 0869.376.388 của Nguyễn Trọng H theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) theo Ủy nhiệm chi lập ngày 23/10/2023 tại Kho bạc Nhà nước huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo Nguyễn Trọng H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Hậu Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Hậu Lộc;
  • - CQ Điều tra Công an huyện Hậu Lộc;
  • - CQ THA hình sự CA huyện Hậu Lộc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;

Tạ Văn Tuyển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 57/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger