|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST Ngày 29-8-2024 V/v ly hôn, con chung, chia tài sản chung giữa anh Khải và chị Khuyên |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Đô
Ông Nguyễn Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 397/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 về việc “tranh chấp ly hôn, con chung và chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/QĐST-HNGĐ ngày 20/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đồng Đức K, sinh năm 1990 (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền về tài sản: Ông Đồng Văn C, sinh năm 1960 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Chị Trần Thị K1, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ HKTT: Thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố L, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho chị K1: Bà Nguyễn Thị Vân H, bà Phạm Thị Kiều H1- Luật sư thuộc Công ty L, Đoàn luật sư thành phố H (vắng mặt).
Địa chỉ: Phòng A, Tháp B, Tòa nhà H, A Đê L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn anh Đồng Đức K trình bày như sau:
-Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Trần Thị K1 ngày 03/09/2018. Trước khi cưới hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay và sinh sống tại Hà Nội, đến năm 2020 vợ chồng chuyển về sống tại xã N ở cùng gia đình anh. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, không thể cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, phát triển kinh tế. Tháng 09/2022, chị K1 về nhà mẹ đẻ tại tổ dân phố L, thị trấn K, huyện L ở, vợ chồng anh sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế từ đó đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị K1.
- Về con chung: Vợ chồng anh có một con chung là Đồng Hải M, sinh ngày 02/9/2018. Con khỏe mạnh, phát triển bình thường. Trong thời gian anh và chị K1 sống ly thân con học tập tại trường mầm non xã A, cách nhà anh khoảng 01 km, anh và chị K1 luân phiên nhau nuôi dưỡng, chăm sóc con, cụ thể: Các ngày thứ 2, thứ 3 trong tuần con ở với anh, các ngày còn lại trong tuần con ở với chị K1. Tại phiên tòa anh K trình bày hiện nay con đã đăng ký nhập học vào lớp 1A trường Tiểu học xã A và đang ở cùng anh. Vợ chồng ly hôn anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, việc góp cấp dưỡng nuôi con anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị K1 được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra anh K trình bày: Hiện nay anh đang làm cán bộ Ngân hàng N chi nhánh huyện Y. Anh phụ trách mảng khách hàng thị trường, thời gian làm việc do anh chủ động. Mức thu nhập của anh ổn định từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng một tháng. Thời gian làm việc giờ hành chính, sáng đi tối về. Anh đang ở trên nhà đất cùng bố mẹ đẻ tại thôn B, xã N, nên được bố mẹ hỗ trợ trong việc chăm sóc, đưa đón con đi học những khi anh bận công việc. Bản thân chị K1 từng hai lần đi mổ u não vào năm 2018 và năm 2023, sức khỏe không tốt bằng anh, nhiều khi chị K1 có biểu hiện nóng tính do ảnh hưởng của bệnh lý. Khi con được ở cùng chị K1, bố mẹ anh đến nhà chị K1 thăm đón con thì bị chị K1 cản trở việc thăm con.
- Về tài sản chung: Anh xác nhận anh và chị K1 có tài sản chung là một chiếc ô tô nhãn hiệu VIOS, biển kiểm sát 98A- 60499, sản xuất năm 2018, đăng ký mang tên Đồng Đức K trị giá 400.000.000 đồng. Nay ly hôn anh đề nghị giao xe cho anh quản lý, sử dụng và đồng ý thanh toán trả chị K1 giá trị bằng tiền.
Về nghĩa vụ chung về tài sản: Tại đơn khởi kiện bổ sung anh K đề nghị Tòa án giải quyết chia khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng là số tiền 120.000.000 đồng nợ của ông Nguyễn Đức C1 và số tiền 340.000.000 đồng vay tại Ngân hàng N chi nhánh huyện Y- Phòng G.
Ngày 15/7/2024 anh K có đơn xin rút đơn khởi kiện đối với yêu cầu chia số nợ chung trên, không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này. Anh đề nghị Tòa án đình chỉ yêu cầu chia số nợ chung giữa anh và chị K1.
Tại phiên tòa anh Đồng Đức K vẫn giữ nguyên quan điểm trên.
*Người đại diện theo ủy quyền của anh Đồng Đức K theo Hợp đồng ủy quyền ngày 20/4/2024 ông Đồng Văn C trình bày: Ông C nhất trí với lời khai của anh K đã trình bày về quá trình kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh K và chị K1. Ông đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của anh K. Ông đề nghị Tòa án giao con chung là Đồng Hải M, sinh ngày 02/9/2018 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Vì anh K có công việc làm thu nhập ổn định, sức khỏe tốt hơn chị K1. Nên con ở với anh K sẽ có điều kiện để được nuôi dưỡng, chăm sóc đầy đủ toàn diện và tốt nhất.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản ông C thống nhất với lời khai của anh K đã trình bày không bổ sung gì thêm.
*Tại văn bản trình bày ý kiến, các lời khai tiếp theo bị đơn chị Trần Thị K1 trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Chị K1 xác nhận về thời gian và quá trình kết hôn như anh K trình bày là đúng. Kết hôn xong vợ chồng chị về chung sống với nhau ngay, quá trình chung sống một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp. Nguyên nhân do chị nghi ngờ anh K có mối quan hệ bất chính bên ngoài với người phụ nữ khác, nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Tháng 09/2022, anh K đưa chị về nhà bố mẹ đẻ tại tổ dân phố L, thị trấn K để ở. Vợ chồng chị sống ly thân, cắt đứt mọi quan hệ từ đó. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh K đề nghị Tòa án giải quyết cho anh K được ly hôn với chị, chị đồng ý.
- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Đồng Hải M, sinh ngày 02/9/2018. Con khỏe mạnh và phát triển bình thường, khi sống ly thân vợ chồng chị luân phiên nhau nuôi dưỡng, chăm sóc con. Trường hợp vợ chồng ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và yêu cầu anh K góp cấp dưỡng nuôi con mức 3.000.000 đồng một tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn anh K được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra chị K1 trình bày: Hiện nay chị đang làm kế toán kiêm quản lý công ty TNHH T, địa chỉ: Phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Chị phụ trách làm việc tại chi nhánh B. Mức thu nhập trung bình từ 6.800.000 đồng đến 7.500.000 đồng một tháng. Thời gian làm việc chủ động, có thời gian chăm sóc, đưa đón con đi học vì con chung còn nhỏ, cần có mẹ chăm sóc nuôi dưỡng. Ngoài ra có bố mẹ đẻ chị phụ giúp việc chăm sóc, đưa đón con. Về nhà đất riêng hiện nay chị chưa có mà đang ở cùng nhà với bố mẹ đẻ tại thị trấn K. Trường hợp được Tòa án giao cho nuôi con, chị sẽ chuyển cho con về học ở gần nhà bố mẹ đẻ chị, từ nhà đến trường học của con cách khoảng 03 km. Bố mẹ của anh K đã lớn tuổi, sức khỏe hiện nay của chị đã hoàn toàn ổn định bình thường nên chị có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Chị sẽ không cản trở quyền thăm nom, đón con của anh K.
- Về tài sản chung: Chị K1 thống nhất lời khai với anh K xác định vợ chồng có tài sản chung là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu VIOS, biển kiểm sát 98A- 60499, sản xuất năm 2018, đăng ký mang tên Đồng Đức K được định giá là 400.000.000 đồng. Nay ly hôn, chị đồng ý giao xe cho anh K quản lý, sử dụng và đồng ý nhận giá trị chia tài sản chung bằng tiền.
-Về nghĩa vụ chung về tài sản: Chị K1 không yêu cầu Tòa án giải quyết về số nợ chung của vợ chồng. Việc anh K yêu cầu chia số nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, anh K đã có đơn xin rút yêu cầu không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này, chị hoàn toàn nhất trí.
Tại phiên tòa chị Trần Thị K1 và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Trần Thị K1 vắng mặt.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Tại phiên tòa bị đơn chị K1 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị K1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Chị K1 có đơn đề nghị hoãn phiên tòa với lý do bận công việc đột xuất, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho chị K1 có đơn xin hoãn phiên tòa vì lý do bận công tác và tham gia một phiên tòa khác. Xét thấy đây là phiên tòa được mở lại lần hai, Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự. Lý do xin hoãn phiên tòa của chị K1 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị K1 là không có căn cứ để chấp nhận, đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 51, Điều 56; Điều 33, Điều 38, Điều 59; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 157, Điều 165, khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đồng Đức K.
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đồng Văn K2 được ly hôn chị Trần Thị K1.
2. Về con chung: Giao cho anh Đồng Đức K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Đồng Hải M, sinh ngày 02/9/2018. Việc góp cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn chị Trần Thị K1 được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung:
3.1 Xác nhận tài sản chung giữa anh Đồng Đức K và chị Trần Thị K1 tạo lập gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại VIOS G, số khung RL4B29F35J5041951, số máy 2NRX329201, biển kiểm soát 98A-604.99 đăng ký cấp ngày 29/3/2023 mang tên Đồng Đức K trị giá là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
Anh Đồng Đức K và chị Trần Thị K1 mỗi người được hưởng ½ giá trị tương đương số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
3.2 Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giao cho anh Đồng Đức K được quyền quản lý và sử dụng 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại VIOS G, số khung RL4B29F35J5041951, số máy 2NRX329201, biển kiểm soát 98A-604.99 đăng ký cấp ngày 29/3/2023 mang tên Đồng Đức K trị giá là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
Buộc anh Đồng Đức K phải trả chị Trần Thị K1 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) tiền chênh lệch tài sản chung.
Đình chỉ giải quyết yêu cầu chia số nợ chung của vợ chồng giữa anh Đồng Đức K và chị Trần Thị K1.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về nghĩa vụ chậm trả tiền, tiền chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tiến hành tố tụng đảm bảo tuân theo đúng quy định của BLTTDS, không có đương sự nào khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị đơn chị K1 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị K1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Chị K1 có đơn đề nghị hoãn phiên tòa với lý do bận công việc đột xuất. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp chỉ chị K1 tiếp tục có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bận công tác và tham gia một phiên tòa khác, mặc dù đã có đơn xin hoãn phiên tòa ngày 20/8/2024 được HĐXX chấp nhận cho hoãn phiên tòa.
HĐXX xét thấy đây là phiên tòa được mở lại lần hai, Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự, lý do xin hoãn phiên tòa của chị K1 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị K1 là không có căn cứ để chấp nhận. Phía anh K và ông C đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX không chấp nhận lý do xin hoãn phiên tòa của chị K1 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị K1 vì đây là phiên tòa được mở lại lần hai. Do vậy Hội đồng xét xử cứ các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị K1 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị K1, và công bố lời khai của chị K1 tại phiên tòa theo thủ tục chung là thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đồng Đức K kết hôn với chị Trần Thị K1 ngày 03/09/2018 trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong anh chị về chung sống tại gia đình anh K ngay. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, phát triển kinh tế. Do vợ chồng mâu thuẫn tháng 9/2022, chị K1 về nhà mẹ đẻ tại tổ dân phố L, thị trấn K, huyện L để ở, anh chị sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế từ đó cho đến nay.
Phía anh K và chị K1 đều xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh K xin ly hôn, chị K1 cũng đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa anh K và chị K1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì anh chị sống ly thân từ tháng 9/2022 đến nay không về đoàn tụ. Nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Đồng Đức K được ly hôn chị Trần Thị K1.
[3] Về con chung: Anh Đồng Đức K và chị Trần Thị K1 có một con chung là Đồng Hải M, sinh ngày 02/9/2018, con chung của anh chị khỏe mạnh, phát triển bình thường. Vợ chồng ly hôn cả anh K và chị K1 đều có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung.
Xét thấy chị K1 làm nghề kế toán, mức thu nhập trung bình từ 6.800.000 đồng đến 7.500.000 đồng một tháng. Hiện nay chị K1 ở cùng nhà với bố mẹ đẻ, chưa có nhà đất riêng, khoảng cách từ nhà bố mẹ đẻ của chị K1 đến trường của con học khoảng hơn 03km. Bản thân chị K1 từng có tiền sử bệnh lý năm 2018 và năm 2023 bị mổ u não, mặc dù sức khỏe của chị hiện nay đã ổn định. Còn anh K là cán bộ tại Ngân hàng N chi nhánh huyện Y, có mức thu nhập ổn định từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng một tháng, cao hơn nhiều lần so với chị K1. Anh K có nơi ở ổn định cùng bố mẹ đẻ ở thôn B, xã N.
Xét thấy anh K có đủ điều kiện về sức khỏe, kinh tế để chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Ngoài ra có bố mẹ đẻ anh K phụ giúp trông nom chăm sóc cháu khi anh bận công việc. Kết quả xác minh hiện con chủ yếu ở cùng anh K và đang học gần nhà anh K từ khi anh chị sống ly thân đến nay. Con được anh K chăm sóc, nuôi dưỡng khỏe mạnh phát triển bình thường, được ăn học đầy đủ. Tại phiên tòa anh K trình bày bổ sung hiện nay con chung đang ở cùng anh K, và đang học lớp 1A trường tiểu học xã A. Khoảng cách từ nhà anh K đến trường học của con chỉ cách 01km thuận tiện cho việc chăm sóc, đưa đón.
HĐXX xét thấy để xem xét mọi mặt quyền lợi của con, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của trẻ em và ổn định tâm lý của trẻ, tránh cuộc sống bị xáo trộn môi trường sống giáo dục của con. Để đảm bảo ổn định tâm lý và tình cảm của con theo Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét thấy cần thiết giao con chung là Đồng Hải M, sinh ngày 02/9/2018 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng để con chung của anh chị được chăm sóc, giáo dục đầy đủ về các mặt thể chất, tinh thần và tâm sinh lý một cách toàn diện, tốt nhất là phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Đồng Đức K không yêu cầu chị Trần Thị K1 góp cấp dưỡng nuôi con chung, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, chị Trần Thị K1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung: Anh Đồng Đức K và chị Trần Thị K1 không thống nhất thỏa thuận được Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định và định giá tài sản kết quả theo biên bản định giá tài sản ngày 03/7/2024 tài sản chung gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại VIOS G, số khung RL4B29F35J5041951, số máy 2NRX329201, biển kiểm soát 98A-604.99 đăng ký cấp ngày 29/3/2023 mang tên Đồng Đức K trị giá là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
Nay ly hôn, anh K có nguyện vọng được quản lý sử dụng xe ô tô, phía chị K1 cũng đồng ý, nên chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận giao cho anh Đồng Đức K được quyền quản lý và sử dụng xe ô tô và buộc anh K phải trả cho chị K1 số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) giá trị tài sản chung bằng tiền là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ chung về tài sản: Quá trình giải quyết vụ án phía anh Đồng Đức K đề nghị Tòa án giải quyết chia khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng là số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) nợ ông Nguyễn Đức C1 và số nợ 340.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi triệu đồng) vay tại Ngân hàng N chi nhánh huyện Y- Phòng G. Tòa án đã làm việc với ông Nguyễn Đức C1 có ý kiến không làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Phía Ngân hàng N chi nhánh huyện Y- Phòng G cũng không có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về khoản nợ chung này. Ngày 15/7/2024 anh Đồng Đức K có đơn xin rút đơn khởi kiện đối với yêu cầu chia số nợ chung trên, phía chị K1 cũng đồng ý. Do vậy HĐXX đình chỉ giải quyết về số nợ chung giữa anh K và chị K1 không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.
[4]. Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị K1 đã nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền là 3.000.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 157 và khoản 2 Điều 165 BLTTDS thì anh K và chị K1 mỗi người phải chịu ½ số tiền chi phí tố tụng trên giá trị tài sản được hưởng. Nên buộc anh Đồng Đức K phải hoàn trả cho chị Trần Thị K1 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí tố tụng là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc anh Đồng Đức K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản chung. Tổng cộng là 10.300.000 đồng (Mười triệu, ba trăm nghìn đồng). Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007226 ngày 04/12/2023 và số tiền 5.750.000 đồng (Năm triệu, bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) anh đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007421 ngày 02/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Anh Đồng Đức K còn phải nộp tiếp số tiền 4.250.000 đồng (Bốn triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc chị Trần Thị K1 phải chịu 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản chung. Nhưng được trừ vào số tiền 5.375.000 đồng (Năm triệu, ba trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007423 ngày 04/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Chị Trần Thị K1 còn phải nộp tiếp số tiền 4.625.000 đồng (Bốn triệu, sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[7] Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 56; Điều 33, Điều 38, Điều 59; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 157, Điều 165, khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đồng Đức K.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đồng Đức K được ly hôn chị Trần Thị K1.
2. Về con chung: Giao cho anh Đồng Đức K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Đồng Hải M, sinh ngày 02/9/2018. Việc góp cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn chị Trần Thị K1 được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung:
3.1 Xác nhận tài sản chung giữa anh Đồng Đức K và chị Trần Thị K1 tạo lập gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại VIOS G, số khung RL4B29F35J5041951, số máy 2NRX329201, biển kiểm soát 98A-604.99 đăng ký cấp ngày 29/3/2023 mang tên Đồng Đức K, trị giá là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
Anh Đồng Đức K và chị Trần Thị K1 mỗi người được hưởng ½ giá trị tương đương số tiền là 200.000.000 đồng ( Hai trăm triệu đồng).
3.2 Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giao cho anh Đồng Đức K được quyền quản lý và sử dụng 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại VIOS G, số khung RL4B29F35J5041951, số máy 2NRX329201, biển kiểm soát 98A-604.99 đăng ký cấp ngày 29/3/2023 mang tên Đồng Đức K, trị giá là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
Buộc anh Đồng Đức K phải trả chị Trần Thị K1 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) tiền chia tài sản chung.
3.3 Đình chỉ giải quyết yêu cầu chia số nợ chung của vợ chồng giữa anh Đồng Đức K và chị Trần Thị K1.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc anh Đồng Đức K phải hoàn trả cho chị Trần Thị K1 1.500.000 đồng (Một triệu, năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí tố tụng.
4. Về án phí: Buộc anh Đồng Đức K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản chung. Tổng cộng là 10.300.000 đồng (Mười triệu, ba trăm nghìn đồng). Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007226 ngày 04/12/2023 và số tiền 5.750.000 đồng (Năm triệu, bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) anh đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007421 ngày 02/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Anh Đồng Đức K còn phải nộp tiếp số tiền 4.250.000 đồng (Bốn triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc chị Trần Thị K1 phải chịu 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản chung. Nhưng được trừ vào số tiền 5.375.000 đồng (Năm triệu, ba trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007423 ngày 04/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Chị Trần Thị K1 còn phải nộp tiếp số tiền 4.625.000 đồng (Bốn triệu, sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, con chung, chia tài sản chung
- Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh K, chị K2
