TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/HS-ST
Ngày 29 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Xuyên. Nghề nghiệp: Phó Trưởng phòng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Nam Đàn;
Ông Lê Phúc Lâm. Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Văn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Đăng Q, sinh năm 1994 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm L, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng T (chết) và bà Lê Thị N; Có vợ: Lê Thị Hồng N1 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt.
- Bị hại: Cháu Hồ Nguyễn L (đã chết).
- Đại diện hợp pháp của bị hại Hồ N: Ông Hồ Ngọc H, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Khối T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Là bố mẹ đẻ của bị hại. Ông H có mặt, bà Q1 vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Khối T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Quang H1, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Xóm L, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người làm chứng: Ông Vi Văn T1, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Xóm K, xã T, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 20 tháng 01 năm 2024, Nguyễn Đăng Q điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 37C-223.67 chở gỗ keo (quá tải trọng 133.4%) đi trên Quốc lộ D theo hướng huyện T đi thành phố V, tỉnh Nghệ An. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ D với Quốc lộ A thuộc khối H, thị trấn N, huyện N thì đèn tín hiệu giao thông của trục đường 46A chuyển sang màu đỏ nhưng Q không dừng lại theo tín hiệu đèn mà vẫn điều khiển xe ô tô đi tiếp, dẫn đến đâm vào phía trước xe máy điện biển kiểm soát 37MĐ2- 481.30 do cháu Hồ Nguyễn L điều khiển hướng khối H, thị trấn N đi UBND thị trấn N. Hậu quả: Hai phương tiện bị hư hỏng và cháu Hồ Nguyễn L bị thương nặng sau đó tử vong ngày 13/02/2024.
Tại Bản kết luận giám định số 63/KLGĐ-KTHS(DVCH) ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh N xác định:
“1. Ngay tại thời thời xảy ra tai nạn: Xe ô tô biển kiểm soát 37C-223.67 di chuyển trên đường Q theo hướng từ huyện T đi thành phố V; xe máy điện biển kiểm soát 37MĐ2-481.30 di chuyển từ phải qua trái so với chiều di chuyển của xe ô tô biển kiểm soát 37C-223.67.
2. Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển kiểm soát 37C-223.67 với xe máy điện biển kiểm soát 37MĐ2-481.30:
Trên hiện trường: Ở phần đường bên phải đường Quốc lộ 46A theo hướng huyện T đi thành phố V.
Trên xe ô tô biển kiểm soát 37C-223.67: ở bánh lốp phía trước bên phải xe.
Trên xe máy điện biển kiểm soát 37MĐ2-481.30: ở phần phía trước xe.
Không xác định được xe ô tô biển kiểm soát 37C-223.67 hay xe máy điện biển kiểm soát 37MĐ2-481.30 vào ngã tư nơi giao nhau giữa đường Quốc lộ 46A với đường Quốc lộ 15A trước.
3. Không xác định được tốc độ di chuyển của xe ô tô biển kiểm soát 37C-223.67 và xe máy điện biển kiểm soát 37MĐ2-481.30 ngay tại thời điểm xảy ra tai nạn”.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 55/KLGĐ-KTHS ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh N xác định nguyên nhân tử vong của cháu Hồ Nguyễn L: “Suy hô hấp, suy tuần hoàn do nhiễm khuẩn huyết Klebsiella aerogenes đa kháng trên nạn nhân bị đa chấn thương”.
2
Bản Cáo trạng số 63/CT-VKSNĐ ngày 30/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An đã truy tố Nguyễn Đăng Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng Q mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đăng Q đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Về trách nhiệm dân sự không có yêu cầu gì. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Q1, người làm chứng ông Vi Văn T1 nhưng việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định Điều 290, 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đăng Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 01 năm 2024, tại ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ D với Quốc lộ A thuộc
3
khối H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Đăng Q điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 37C-223.67 không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông dẫn đến va chạm với xe máy điện mang biển kiểm soát 37MĐ2-481.30 do cháu Hồ Nguyễn L điều khiển. Hậu quả làm cháu L bị thương nặng và sau đó tử vong. Hành vi trên của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật Giao thông đường bộ; điểm a khoản 5 Điều 5 của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ, đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Về áp dụng hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác, làm mất trật tự an toàn xã hội và gây tâm lý lo lắng cho người tham gia giao thông nên cần xử lý nghiêm. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo có ông bà nội là Nguyễn Đăng T2 và Nguyễn Thị T3 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội với lỗi vô ý, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà có khả năng tự cải tạo tại địa phương nên việc cho bị cáo được hưởng án treo không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng: Các vật chứng đã được trả cho chủ sỡ hữu trong quá trình điều tra đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng Q 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng về tội “Vi
4
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Thời gian thử thách của án treo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 29 tháng 7 năm 2024.
Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Đăng Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Hoàng Hào |
5
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đăng Quân - VP quy đinh về giao thông
