Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/DS-ST

Ngày: 29/5/2024

V/v tranh chấp “HĐ hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Thanh Sang, bà Phan Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: ông Quách Thuận An, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Đoàn Thụy Thùy Trang, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 90/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

Bà Võ Thị Phi Y, sinh năm 1966, cư trú: số I, ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Ông Nguyễn Trường T, sinh năm 1964, cư trú: số I, ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

2. Bị đơn: bà Lê Thị Thùy D, sinh năm 1972, cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Đinh Hoàng N, sinh năm 1970, cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 23/01/2024, nguyên đơn bà Võ Thị Phi Y, ông Nguyễn Trường T cùng trình bày:

Vợ chồng bà có cho bà Lê Thị Thùy D tham gia dây hụi 5.000.000 đồng, hụi khui ngày 25/10/2021 âm lịch gồm 26 hụi viên, bà D tham gia 02 dây, theo danh sách hụi viên, số thứ tự bà D tham gia dây hụi là số 15 và 16. Ngày 25/02/2022 bà D hốt dây thứ nhất, đến ngày 25/7/2022 hốt dây thứ hai. Sau khi hốt hụi, bà D đã đóng hụi đến ngày 25/6/2023 thì ngưng cho đến nay. Tính đến ngày 25/6/2023 thì bà D đóng được 21 lần, còn 4 lần thì ngưng không đóng nữa nên còn nợ lại 8 lần (mỗi dây còn 04 lần), tổng số tiền là 40.000.000 đồng. Do bà D nói không còn khả năng chầu hụi nữa, đến ngày 30/9/2023 bà D làm giấy hụi để xác nhận còn nợ số tiền 40.000.000 đồng, giấy hụi này bà Y yêu cầu bà D viết sau khi bà D không đóng hụi được 2 tháng, thời điểm bà D viết giấy hụi để xác nhận nợ là hụi còn 2 lần mới mãn hụi. Giấy hụi này là do ông Đinh Hoàng N viết còn chữ ký là của bà Lê Thị Thùy D. Nay dây hụi đã mãn, bà Y, ông T yêu cầu bà D, ông N liên đới trả cho vợ chồng bà số tiền 40.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Lê Thị Thùy D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Hoàng N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà D, ông N vẫn không đến Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Lê Thị Thùy D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Hoàng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D, ông N là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự, Điều 217, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Phi Y, ông Nguyễn Trường T. Buộc bà Lê Thị Thùy D trả cho bà Võ Thị Phi Y, ông Nguyễn Trường T số tiền 40.000.000 đồng. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Phi Y, ông Nguyễn Trường T đối với ông Đinh Hoàng N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: theo đơn khởi kiện của bà Võ Thị Phi Y, ông Nguyễn Trường T yêu cầu bà Lê Thị Thùy D, ông Đinh Hoàng N liên đới trả cho vợ chồng bà số tiền hụi 40.000.000 đồng. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng hụi.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: bị đơn bà Lê Thị Thùy D, cư trú ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: bị đơn bà Lê Thị Thùy D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Hoàng N đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D, ông N theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Theo đơn khởi kiện, bà Y, ông T khởi kiện yêu cầu bà D, ông N cùng có nghĩa vụ trả số tiền 40.000.000 đồng theo giấy hụi ngày 30/9/2023DL. Tại phiên tòa hôm nay, bà Y, ông T rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông Đinh Hoàng N cùng có nghĩa vụ liên đới với bà Lê Thị Thùy D trả số tiền 40.000.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Y, ông T về việc yêu cầu ông N cùng có nghĩa vụ liên đới với bà D trả số tiền 40.000.000 đồng.

[2.2] Theo bà Y, ông T trình bày vợ chồng bà có cho bà D tham gia 02 dây hụi 5.000.000 đồng, hụi khui ngày 25/10/2021 âm lịch gồm 26 hụi viên. Ngày 25/02/2022 bà D hốt dây thứ nhất, đến ngày 25/7/2022 hốt dây thứ hai, sau khi hốt hụi bà D có đóng được 21 lần, đến ngày 25/6/2023 bà D không đóng nữa. Mỗi dây hụi còn lại 4 lần bà D không đóng nên ngày 30/9/2023 bà Y yêu cầu bà D làm giấy hụi để xác nhận nợ hụi với số tiền là 40.000.000 đồng. Xét tại giấy hụi ngày 30/9/2023DL thể hiện bà D còn nợ số tiền 40.000.000 đồng nên bà Y, ông T yêu cầu bà D trả số tiền 40.000.000 đồng là có căn cứ để chấp nhận.

[2.3] Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện của bà Y, ông T được chấp nhận nên bà Y, ông T được nhận lại tiền tạm ứng án phí. Bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 244, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Phi Y, ông Nguyễn Trường T.

Buộc bà Lê Thị Thùy D có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị Phi Y, ông Nguyễn Trường T số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Phi Y, ông Nguyễn Trường T về việc yêu cầu ông Đinh Hoàng N cùng có nghĩa vụ liên đới với bà Lê Thị Thùy D trả số tiền 40.000.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị Thùy D phải chịu 2.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Võ Thị Phi Y, ông Nguyễn Trường T được hoàn lại số tiền 1.000.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0015091 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 26 tháng 02 năm 2024.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND H. Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS H. Chợ Mới;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/DS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng hụi

  • Số bản án: 57/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 90/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Phi Y, sinh năm 1966, cư trú: số I, ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt). Ông Nguyễn Trường T, sinh năm 1964, cư trú: số I, ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt). 2. Bị đơn: bà Lê Thị Thùy D, sinh năm 1972, cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt). 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đinh Hoàng N, sinh năm 1970, cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger