|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2023/HS-ST Ngày: 28-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Bé Hai
- Ông Phan Quốc Tiến
- Thư ký phiên tòa: Huỳnh Trọng Nhân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Sang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2023/HSST-QĐ ngày 09 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Hoàng P, sinh năm 1999 tại Đồng Tháp; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Lê Văn C, sinh năm 1969 và bà Đỗ Thị Đ, sinh năm 1963; Vợ, con: Chưa có; Gia đình 05 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Tiền án, Tiền sự: Không có; Tạm giữ, tạm giam: Không có; Bị cáo tại ngoại (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Huỳnh Văn H, sinh năm 1994; Địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Võ Thị T, sinh năm 1953; Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có đơn xin vắng mặt).
Võ Thanh T1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Ấp F, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có đơn xin vắng mặt).
Người làm chứng:
Đoàn Trung Đ1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
Đỗ Thị Đ, sinh năm 1963; Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
Lê Văn C, sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
Trần Văn L, sinh năm 1992; Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Lê Hoàng P bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/6/2021, Lê Hoàng P sinh năm 1999 ngụ ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp lén lút vào nhà bà Võ Thị T, sinh năm 1953 ngụ cùng địa chỉ lấy trộm bình ắc quy loại N200, nhãn hiệu Globe của anh Huỳnh Văn H, sinh năm 1994 (con rễ bà T) mang đến cầu M Cạn để cất giấu. Khoảng 19 giờ cùng ngày, P gọi điện cho Đoàn Trung Đ1 (tên gọi khác là T2) rủ đi uống cà phê, khi Đ1 điều khiển xe đến cầu M thì gặp P, lúc này P nói với Đ1 là bình ắc quy của người anh không sử dụng nhờ P đem bán nên nhờ Đ1 chở P và bình ắc quy đem đi bán nhưng không bán được, P nhờ Đặng tìm người bán thì Đ1 gọi điện cho anh Võ Thanh T1 (anh rễ Đ1), sinh năm 1976 ngụ ấp F, xã P, huyện C để cho P nói chuyện. Sau đó, Đ1 chở P đến nhà anh T1 để P bán bình ắc quy cho anh T1 được 1.600.000 đồng.
Sau khi phát hiện mất bình ắc quy anh H đã trình báo Công an xã N. Đến ngày 27/6/2021, P điện thoại cho bà Đỗ Thị Đ (mẹ P) và anh Đ1 nói bình ắc quy là lấy trộm của anh H nên kêu Đ1 nói với anh T1 đưa bình ắc quy để bà Đ mang trả cho anh H.
Tang vật thu giữ: 01 bình ắc quy loại N200 nhãn hiệu Globe (do anh Huỳnh Văn H giao nộp)
Tại biên bản và kết luận định giá tài sản số 24/BB-HĐĐGTTHS ngày 24/5/2023 đã kết luận giá trị của 01 bình ắc quy loại N200 nhãn hiệu Globe là 2.400.000 đồng.
Đối với bình ắc quy loại N200 nhãn hiệu Globe Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Huỳnh Văn H về trách nhiệm dân sự anh H đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm. Đối với số tiền 1.600.000 đồng anh Võ Thanh T1 dùng để mua bình ắc quy không yêu cầu Lê Hoàng P hoàn trả lại.
Trước cơ quan điều tra, bị cáo Lê Hoàng P đã ăn năn, hối cãi thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị can còn phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 44/CT-VKSHCL ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Lê Hoàng P về tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng P với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
- Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Hoàng P thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 44/CT-VKSHCL ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo.
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/6/2021 tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu nên đã lén lút lấy trộm 01 bình ắc quy loại N200 nhãn hiệu Globe của anh Huỳnh Văn H. Giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là 2.400.000 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Lê Hoàng P đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...”
[3] Xét hành vi của bị cáo Lê Hoàng P, khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo còn khai rằng biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì lòng tham mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương nơi xảy ra vụ án.. Do vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; được bị hại làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt; về nhân thân: bị cáo xuất thân là thành phần nhân dân lao đông, chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn về kinh tế, gia đình bị cáo có công với cách mạng (bác là Lê Văn Đ2 là liệt sỹ) đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, khi lượng hình cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra, anh Huỳnh Văn H đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu bị cáo bồi thường các tài sản. Ngoài ra bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì thêm bất cứ khoản nào phù hợp theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Anh Võ Thanh T1 không có yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.600.000 đồng mà anh T1 đã mua bình ắc quy nên Hội đồng xét xử không xem xét
[7] Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét.
[8] Về án phí: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lê Hoàng P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh về tội danh, điều luật truy tố và các vấn đề khác là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng P 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong, không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong, không đặt ra xem xét.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Buộc bị cáo Lê Hoàng P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Trung Dũng |
Bản án số 57/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 57/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng Phương
