Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/DS-ST

Ngày: 28-8-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Thành Đô

2. Ông Đồng Văn Diện

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 51/2024/DS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 7 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 98/2024/QĐST-DS ngày 02/8/2024, giữa:

* Nguyên đơn: Ông Hà Văn T, sinh năm 1965 – Có đơn xin xét xử vắng mặt

Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Anh Hà Văn L, sinh năm 1989 – Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1988 – Có đơn xin xét xử vắng mặt

Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1966 – Có đơn xin xét xử vắng mặt

Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo nguyên đơn ông Hà Văn T trình bày: Do có quan hệ hàng xóm với anh Hà Văn L, sinh năm 1989, địa chỉ thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên ngày 22/8/2016, vợ chồng anh L, chị H có sang nhà ông hỏi vay số tiền 30 triệu đồng. Khi vay hai bên thoả thuận thời hạn vay 24 tháng kể từ ngày 22/8/2016 đến 22/8/2018, lãi suất 1%/tháng. Mục đích anh L vay để làm ăn chăn nuôi phát triển kinh tế gia đình. Khi vay anh Hà Văn L nhận tiền và ký vào mục người vay, chị Nguyễn Thị Thanh H là vợ ký vào mục người thừa kế ký trong Đơn xin vay vốn quỹ hội. Do thời điểm năm 2016, ông là Chi hội trưởng Hội cựu chiến binh thôn C, xã M, là quản lý, sử dụng, thu chi, chịu trách nhiệm đối với số tiền của Hội viên đã nộp và trong Hội luôn có mẫu “Đơn xin vay vốn quỹ hội” là mẫu chung của Hội dành cho các thành viên trong Hội có khó khăn về kinh tế và có nhu cầu vay quỹ hội thì tạo điều kiện cho vay. Tuy nhiên, anh Hà Văn L không phải thành viên của Hội cựu chiến binh của thôn và do có mẫu sẵn này ở nhà nên ông lấy giấy này ra viết cho anh L và chị H ký. Trong quá trình vay, vợ chồng anh L trả tiền lãi hàng tháng đầy đủ. Hết thời hạn vay, vợ chồng anh L chưa trả được tiền vay gốc và xin trả dần thì ông đồng ý và vợ chồng anh L tiếp tục trả lãi đầy đủ theo như thoả thuận ban đầu tính đến ngày 22/8/2019. Kể từ ngày 23/8/2019, vợ chồng anh L không trả khoản tiền gốc và tiền lãi nào cho ông. Mặc dù ông nhiều lần sang nhà vợ chồng anh L và điện thoại cho anh L để đòi tiền gốc và tiền lãi nhưng anh L cố tình trốn tránh. Vì vậy, ông làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án buộc anh L, chị H phải trả cho ông số tiền vay gốc 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) và toàn bộ tiền lãi tính theo mức lãi suất thoả thuận 10%/năm kề từ ngày 23/8/2019 đến khi xét xử sơ thẩm.

* Bị đơn anh Hà Văn L được Toà án giao thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và các văn bản tố tụng của Toà án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn anh Hà Văn L không đến Toà án làm việc, không có văn bản ý kiến trình bày quan điểm.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị M trình bày: Bà là vợ của ông Hà Văn T, sinh năm 1965, địa chỉ thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Việc ông T cho vợ chồng anh L, chị H ở cùng thôn vay tiền thì bà không biết vì khi cho vay ông T cũng không nói chuyện với bà và tiền cho vay đó là tiền riêng của ông T nên bà không liên quan đến vụ án, bà đề nghị Toà án không triệu tập bà tham gia tố tụng và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Do điều kiện sức khoẻ yếu nên bà xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thanh H trình bày: Chị xác nhận vào thời điểm năm 2016 anh Hà Văn L có vay của ông Hà Văn T số tiền 30 triệu đồng, chị có ký vào mục người thừa kế trong Đơn xin vay vốn quỹ hội. Tuy nhiên, thời điểm năm 2019 vợ chồng chị ly hôn tại Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, chị và anh L đã tự thoả thuận anh L có trách nhiệm trả khoản nợ này cho ông T. Việc thoả thuận gia đình anh L là người giữ giấy tờ này, chị cũng không giữ nên chị không cung cấp được tài liệu cho Toà án. Nay, ông Hà Văn T có đơn khởi kiện yêu cầu trả số tiền vay gốc 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) và tiền lãi thì chị đề nghị anh L là người có trách nhiệm trả khoản nợ này. Do điều kiện công việc nên chị xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

* Quá trình giải quyết vụ án, Toà án có làm việc với ông Hà Duy H1, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang trình bày: Ông hiện đang làm Chi Hội trưởng Hội cựu chiến binh thôn C, xã M từ năm 2017 đến nay. Thời điểm trước năm 2017, ông Hà Văn T là Chi Hội trưởng Hội cựu chiến binh thôn C, xã M. Khi ông T hết nhiệm kỳ, ông T bàn giao lại cho ông đầy đủ sổ sách theo dõi quỹ hội, tiền quỹ hội, không có ai nợ quỹ của hội. Trong Hội cựu chiến binh từ trước đến nay, quỹ hội sẽ tạo điều kiện cho các thành viên trong hội khi có điều kiện khó khăn vay tiền và luôn có mẫu giấy “Đơn xin vay vốn quỹ hội” để cho các thành viên vay vốn ký vào Đơn khi vay tiền quỹ hội. Anh Hà Văn L, sinh năm 1989, đa chỉ: thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang từ trước cho đến nay không phải thành viên của Hội và cũng không thấy anh L nợ quỹ hội.

* Tại phiên tòa, nguyên đơn ông T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà M, chị H có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt, bị đơn được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử công bố các lời khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, của thư ký đúng quy định của pháp luật.

- Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo thực hiện nghiêm túc, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Đối với bị đơn đã vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, HĐXX căn cứ Điều 227, 238 của Bộ luật tố tụng xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn T: Buộc anh Hà Văn L cùng chị Nguyễn Thị Thanh H có trách nhiệm liên đới phải trả cho ông T số tiền gốc là 30.000.000 (Ba mươi triệu đồng) và tiền lãi tính theo mức lãi suất thoả thuận 10%/năm kể từ ngày 23/8/2019 đến khi xét xử sơ thẩm.

Về án phí: anh Hà Văn L, chị Nguyễn Thị Thanh H chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét về quyền kháng cáo của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa sau khi tiến hành nghị án, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt và đều có đơn xin vắng mặt; bị đơn anh Hà Văn L được tiếp tục vắng mặt lần thứ 2, do vậy HĐXX căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ vay tài sản (tiền) giữa ông T và anh L, chị H là quan hệ dân sự giữa cá nhân với cá nhân. Các bên đã không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh nên nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục tại Tòa án. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang thụ lý và giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật về thẩm quyền được quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về quyền khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và quan hệ pháp luật tranh chấp thì thấy:

Ngày 22/8/2016, ông T và anh L, chị H đã thực hiện việc vay tài sản (tiền) với nhau, tổng số tiền ông T cho anh L, chị H vay là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng). Mục đích vay vợ chồng anh L cần tiền để làm ăn chăn nuôi phát triển kinh tế gia đình, thời hạn vay 24 tháng. Hết thời hạn vay, vợ chồng anh L không thanh toán khoản tiền nào, ông T đã nhiều lần đòi tiền vợ chồng anh L nhưng đến nay, vợ chồng anh L vẫn không thanh toán cho ông L. Ngày 08/03/2024, ông T nộp đơn khởi kiện, yêu cầu vợ chồng anh L phải thanh toán trả số tiền vay gốc và tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm kể từ ngày 23/8/2019 cho đến khi xét xử sơ thẩm. HĐXX thấy đây là "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo quy định tại Điều 184, Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 429, 463 và khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015.

[4]. Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hà Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về yêu cầu đòi tiền gốc: Ông Hà Văn T và vợ chồng anh Hà Văn L xác lập Hợp đồng cho vay tiền với số tiền vay gốc là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng). Giao dịch dân sự giữa hai bên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 116 của Bộ luật dân sự năm 2015. Khi tham gia giao dịch dân sự chị ông T, anh L, chị H đều có đủ năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự năm 2015. Kể từ khi vay tiền, vợ chồng anh L chưa trả được tiền vay gốc cho ông T. Nay, ông T yêu cầu vợ chồng anh L có trách nhiệm trả cho ông số tiền vay gốc còn nợ là 30.000.000đ. Bị đơn anh L đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản ý kiến về việc ông T khởi kiện thanh toán số tiền còn nợ. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị H xác định thời điểm năm 2016 anh L có vay của ông T số tiền 30 triệu đồng. Hội đồng xét thấy: năm 2016 vợ chồng anh L, chị H có vay tiền của ông T, đến năm 2019 anh L, chị H làm thủ tục ly hôn tại Toà án nhân dân huyện Lạng Giang nhưng chưa giải quyết về tài sản và công nợ chung, số tiền vay nợ của anh L, chị H đối với ông T là phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, anh L và chị H có trách nhiệm liên đới trả ông T số tiền 30 triệu đồng là phù hợp với quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014 nên cần được chấp nhận.

- Về yêu cầu tính lãi: Tại giấy vay tiền, các bên thoả thuận thời hạn vay 24 tháng, anh L trả tiền lãi đầy đủ cho ông T. Hết thời hạn vay, do không trả được tiền gốc nên vợ chồng anh L thoả thuận xin trả dần và tiếp tục trả lãi đầy đủ theo như thoả thuận ban đầu tính đến ngày 22/8/2019. Kể từ ngày 23/8/2019 vợ chồng anh L không trả tiền lãi cho ông. Nay ông T yêu cầu tính lãi kể từ ngày 23/8/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 10%/năm. Hội đồng xét xử xét thấy, phía vợ chồng anh L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả tiền cho ông T, nay ông yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 10%/năm kể từ ngày 23/8/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm (28/8/2024) là phù hợp với quy định tại Điều 357, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên cần chấp nhận. Cụ thể: Thời gian tính lãi của số tiền vay gốc kể từ ngày 23/8/2019 đến ngày 28/8/2024 là 05 năm 5 ngày là: 30.000.000₫ x 10% x 5 năm 5 ngày = 15.017.000₫

Tổng số tiền nợ gốc và lãi mà anh Hà Văn L, chị Nguyễn Thị Thanh H phải có trách nhiệm liên đới trả ông Hà Văn T là: 30.000.000đ + 15.017.000₫ = 45.017.000₫.

Do hiện nay anh L và chị H đã ly hôn nên chị H và anh L mỗi người có nghĩa vụ thanh toán trả cho ông T ½ số tiền gốc và ½ số tiền lãi tính đến ngày 28/8/2024 là 15.000.000đ tiền nợ gốc và 7.508.500đ tiền lãi.

[5]. Về án phí:

Anh Hà Văn L, chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu tiền án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng tiền án phí, lệ phí Tòa án. Cụ thể: Hà Văn L, chị Nguyễn Thị Thanh H mỗi người phải chịu 1.125.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên ông T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nên hoàn trả ông T số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp.

[6]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 184, Điều 186, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27, 59, 60 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về miễn, giảm, mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn T:

- Buộc anh Hà Văn L phải thanh toán trả cho ông Hà Văn T số tiền nợ gốc là 15.000.000đ và tiền lãi 7.508.500đ. Tổng cộng cả gốc và lãi tính đến ngày 28/8/2024 là 22.508.500đ (hai mươi hai triệu năm trăm linh tám nghìn năm trăm đồng).

- Buộc chị Nguyễn Thị Thanh H phải thanh toán trả cho ông Hà Văn T số tiền nợ gốc là 15.000.000đ và tiền lãi 7.508.500đ. Tổng cộng cả gốc và lãi tính đến ngày 28/8/2024 là 22.508.500đ (hai mươi hai triệu năm trăm linh tám nghìn năm trăm đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

- Buộc anh Hà Văn L phải chịu 1.125.000đ (Một triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm;

- Buộc chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 1.125.000đ (Một triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm;

- Hoàn trả ông Hà Văn T số tiền 1.150.000đ (Một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007385 ngày 13/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

3. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - THADS huyện Lạng Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Thị Thiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 57/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Toán anh Long
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger